Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/DS-ST
Ngày 18 tháng 7 năm 2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Quốc Huy;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Huệ;

Ông Đinh Quang Hòa;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Dịu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội xét xử công khai, sơ thẩm vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2023/TLST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:16/2024/QĐXXST - DS ngày 13 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2024/QĐST-DS ngày 28/6/2024 giữa các đương sự:

Nguyênđơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (V1);Trụ sở số H L,phường L,quận Đ TP Hà Nội;Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chủ tịch Hội đồng Quản trị; Đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Hoàng L – Giám đốc Trung tâm T4;Đại diện theo ủy quyền lại: Ông Cao Duy T – Trưởng bộ phận xử lý nợ; Ông Phạm Văn T1 – Cán bộ xử lý nợ; Bà Lê Thị T2 – Cán bộ xử lý nợ; (Ông Cao Duy T, ông Phạm Văn T1 vắng mặt, bà Lê Thị T2 có mặt tại phiên tòa);Địa chỉ: Tầng G Tòa nhà V,số G D,quận C, TP .;

Bị đơn: 1.Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1996; (Vắng mặt)

2.Chị Hoàng Thị T3, sinh năm 1996; (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số E Tổ dân phố P, phường P, thị xã S, TP .;

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;Bà Chu Thị H,sinh năm 1966;Trú tại;Số E Tổ dân phố P, phường P, thị xã S, TP .; (Có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án đại diện Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (Ngân hàng, V1) trình bày:

Anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 vay của V1 tổng số tiền là 900.000.000 đồng (Bằng chữ: Chín trăm triệu đồng) theo hợp đồng tín dụng cụ thể:

- Hợp đồng cho vay số LN2008182679407 ký ngày 26/08/2020, anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 vay của V1 số tiền là 500.000.000 đồng, thời hạn vay 120 tháng, mục đích vay: vay tiêu dùng mua sắm nội thất gia đình. Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 11%, lãi suất cố định trong vòng 12 tháng, mức lãi suất được điều chỉnh 3 tháng/ lần vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07 và 01/10, ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 28/08/2021, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày 01/10/2021 mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng cơ sở VNĐ cộng (+) biên độ 3.0%/ năm (“Mức lãi suất cho vay điều chỉnh”). Mức Lãi suất tham chiếu nêu trên được xác định theo Biểu Lãi suất tham chiếu áp dụng đối với các khoản vay không có Tài sản bảo đảm dành cho Khách hàng cá nhân tại V1 được V1 công bố (được niêm yết tại website: www.V1.com.vn )có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh.

- Hợp đồng số LN2010052850938 ký ngày 26/10/2020 anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 vay của V1 số tiền là 400.000.000 đồng, thời hạn vay 120 tháng, mục đích vay: vay tiêu dùng mua sắm nội thất gia đình. Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 11%/năm, lãi suất cố định trong vòng 12 tháng, mức lãi suất được điều chỉnh 3 tháng/ 1 lần vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07 và 01/10, ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 30/10/2021, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày 01/01/2022; mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng lãi suất cơ sở VNĐ của bên ngân hàng đang áp dụng tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ: 3 %/năm.

Tài sản bảo đảm cho các khoản vay nêu trên là:

Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 21-5e1, Tờ bản đồ số 5, tại địa chỉ khu P, phường P, Thị xã S, thành phố Hà Nội, theo “Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất” số CI 873038, Số vào sổ cấp GCN: CS-ST05571 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 13/06/2017 đứng tên anh Nguyễn Văn N. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp số 3252/2020; Quyển số 03-2020 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/08/2020 tại Văn phòng C

Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng nêu trên, anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với V1 và phải chịu mức lãi suất suất nợ quá hạn theo thỏa thuận. Cụ thể:

+ Hợp đồng số LN2010052850938 ký ngày 26/10/2020 Anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 quá hạn từ ngày 15/04/2022, tạm tính đến ngày 18/07/2024, anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 đã trả được 99,271,486 đồng, trong đó trả nợ gốc là 41.308.998 đồng, trả nợ lãi là 57.962.488 đồng. Tạm tính đến ngày 18/07/2024, ông N và bà T3 còn nợ theo hợp đồng số LN2010052850938 ký ngày 26/10/2020 tổng số tiền là 537.072.254 đồng, trong đó, nợ gốc là 358.691.002 đồng, nợ lãi trong hạn là 10.091.048 đồng, nợ lãi quá hạn là 148.123.347 đồng, nợ lãi chậm trả 20.166.857 đồng.

+ Hợp đồng số LN2008182679407 ký ngày 26/08/2020 Anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 quá hạn từ ngày 15/04/2022, tạm tính đến ngày 18/07/2024, anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 đã trả được 151.485.584 đồng, trong đó trả nợ gốc là 65.341.145 đồng, trả nợ lãi là 86.144.439 đồng. Tạm tính đến ngày 18/07/2024, ông N và bà T3 còn nợ theo hợp đồng số LN2008182679407 ký ngày 26/08/2020 tổng số tiền là 648.085.886 đồng, trong đó, nợ gốc là 434.658.855 đồng, nợ lãi trong hạn là 12.176.715 đồng, nợ lãi quá hạn là 177.598.337 đồng, nợ lãi chậm trả là 23.651.979 đồng.

Tạm tính đến ngày 18/07/2024, tổng dư nợ của các khoản vay nêu trên là:

  • - Nợ gốc : 793.349.857 đồng
  • - Nợ lãi : 347.989.447 đồng
  • - Lãi chậm trả: 43.818.836 đồng
  • - Tổng cộng : 1.185.158.140 đồng;

Vì vậy, V1 yêu cầu Tòa án tuyên trong bản án các nội dung sau:

- Buộc anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 phải thanh toán cho V1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt chậm trả lãi và các khoản phát sinh liên quan theo các Hợp đồng tín dụng nêu trên.

Tạm tính đến ngày 18/07/2024, tổng dư nợ của các khoản vay nêu trên là:

  • + Nợ gốc : 793.349.857 đồng
  • + Nợ lãi : 347.989.447 đồng
  • + Lãi chậm trả: 43.818.836 đồng
  • + Tổng cộng : 1.185.158.140 đồng;

Yêu cầu Tòa án tiếp tục cho tính lãi kể từ ngày 19/07/2024 theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến ngày anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 thực tế thanh toán hết nợ cho V1.

- Trường hợp anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, V1 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản bảo đảm đã nêu trên để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho V1.

- Trường hợp xử lý tài sản bảo đảm nói trên vẫn không đủ để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho V1 anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho V1.

- Anh N và chị T3 phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng cho anh N và chị T3. Tại Bản tự khai đề ngày 21/11/2023, anh Nguyễn Văn N trình bày:

Ngày 26/8/2020 và ngày 26/10/2020, tôi là Nguyễn Văn N và vợ là Hoàng Thị T3 có vay vốn của Ngân hàng V để kinh doanh làm ăn với số tiền gốc là 900.000.000 đồng. Trong thời gian đó vợ chồng tối có trả cho Ngân hàng cả gốc và lãi tính đến ngày 19/9/2023, vợ chồng tôi khó khăn chưa trả cho Ngân hàng được nợ lại 1.028.009.477 đồng. Nay vợ chồng tôi mong muốn xét giảm bớt phần lãi phạt cho vợ chồng tôi. Vợ chồng tôi có trách nhiệm ngày gần nhất để tôi lấy giấy tờ đất về.

Chị Hoàng Thị T3 không trình bày quan điểm về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tại Tòa án.

Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản bảo đảm theo đơn yêu cầu của nguyên đơn.

Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 12 tháng 01 năm 2024 thể hiện:

Thửa đất số 21-5e1, tờ bản đồ số 05, tại địa chỉ: Số E Tổ dân phố P, phường P, thị xã S, TP ., diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 119,8m², loại đất ở tại đô thị, thời hạn sử dụng lâu dài. Nguồn gốc đất: Đất được tặng cho, công nhận quyền sử dụng đất như giao đất có thu tiền quyền sử dụng đất. Phần diện tích 52,8m² đất sử dụng chung cho các thửa 21-5a, 21-5b, 21-5c, 21-5d, 21-5°1, 21-5°2, cùng tờ bản đồ số 05. Thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI-873038;số vào sổ cấp GCN: CS-ST05571 do Sở T cấp ngày 13/6/2017 đứng tên anh Nguyễn Văn N. Trên đất có một số tài sản là:

  • - 01 nhà 02 tầng 01 tum, xây bê tông cốt thép, mái lợp tôn, quây kín chống nóng;
  • - 01 bếp và công trình phụ xây bê tông;
  • - 01 cửa sắt xếp;

Trên đất hiện có bà Chu Thị H là mẹ đẻ anh N đang sinh sống.

Tại Biên bản lấy lời khai của bà Chu Thị H1 ngày 12/01/2024, bà H trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn N, hiện bà đang sinh sống tại địa chỉ số E Tổ dân phố P, phường P, thị xã S, TP . tại thửa đất số 21-5e1, tờ bản đồ số 05, tại địa chỉ: Số E Tổ dân phố P, phường P, thị xã S, TP ., đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên anh N. Năm 2020, do cần tiền để làm ăn nên anh N và vợ là chị Hoàng Thị T3 đã vay tiền tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần V, việc vay mượn và thế chấp bà H không được biết và không liên quan do tài sản thuộc quyền sở hữu của anh N. Nay Ngân hàng khởi kiện anh N tại Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây anh N không có ý kiến gì, bà H đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện giảm lãi, giảm phạt, giảm gốc cho bà và gia đình có điều kiện tất toán khoản nợ với Ngân hàng.

Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tuy nhiên do bị đơn không có mặt, Tòa án không tiến hành hòa giải được nên Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng.

Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 phải trả cho V1 Tổng số tiền: 1.185.158.140 đồng (gồm nợ gốc: 793.349.857 đồng, nợ lãi: 347.989.447 đồng) theo Hợp đồng số LN2008182679407 ký ngày 26/08/2020 và Hợp đồng số LN2010052850938 ký ngày 26/10/2020 và kể từ ngày 18/7/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.Từ ngày 19/7/2024,anh N chị T3 có nghĩa vụ trả nợ ngân hàng V.Trong trường hợp anh N chị

T3 không trả được nợ ngân hàng TMCP V sẽ phát mại tai sản thế chấp để đảm bảo khoản vay,trường hợp tài sản chưa đủ thì anh N,chị T3 có nghĩa vụ tiếp tục trả hết nợ; Về án phí anh N chị T3 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng. Trong năm 2020, anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 có ký kết với nhau tại. Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (V1) các hợp đồng tín dụng cụ thể:

- Hợp đồng cho vay số LN2008182679407 ký ngày 26/08/2020, nội dung vay của V1 số tiền là 500.000.000 đồng, thời hạn vay 120 tháng, mục đích vay: vay tiêu dùng mua sắm nội thất gia đình.

- Hợp đồng số LN2010052850938 ký ngày 26/10/2020 nội dung vay của V1 số tiền là 400.000.000 đồng, thời hạn vay 120 tháng, mục đích vay: vay tiêu dùng mua sắm nội thất gia đình.

Nay V1 khởi kiện anh N và chị T3 tại Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây yêu cầu buộc anh N và chị T3 trả nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm theo hợp đồng trên. Đây là tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự. Xét thấy anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường P, thị xã S, TP . nên Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây thụ lý vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015.

Ngày 13/6/2024 Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây đã ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-DS ấn định thời gian xét xử vào ngày 28/6/2024 và tống đạt cho đương sự. Do bị đơn là anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 vắng mặt không có lý do nên Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây đã căn cứ Điều 227 BLTTDS quyết định hoãn phiên tòa, ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào ngày 18/7/2024 và tống đạt cho đương sự. Ngày 18/7/2024 Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây mở phiên tòa, anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 vắng mặt không có lý do, nên HĐXX căn cứ các điều 227, 228 BLTTDS năm 2015, xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Ngoài ra quá trình giải quyết vụ án, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về yêu cầu khởi kiện của V1 với số tiền gốc và lãi theo các Hợp đồng tín dụng và Giấy đăng ký vay vốn:

Anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 vay tiền của V1 theo các Hợp đồng cho vay/văn bản tín dụng cụ thể như sau:

- Hợp đồng cho vay số LN2008182679407 ký ngày 26/08/2020:

Số tiền vay: 500.000.000 đồng;

Thời hạn vay 120 tháng,

Mục đích vay: vay tiêu dùng mua sắm nội thất gia đình.

Lãi suất cho vay: Tại thời điểm giải ngân là 11%, lãi suất cố định trong vòng 12 tháng, mức lãi suất được điều chỉnh 3 tháng/ lần vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07 và 01/10, ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 28/08/2021, ngày điều chỉnh lãi suất

tiếp theo là ngày 01/10/2021 mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng cơ sở VNĐ cộng (+) biên độ 3.0%/ năm (“Mức lãi suất cho vay điều chỉnh”). Mức Lãi suất tham chiếu nêu trên được xác định theo Biểu Lãi suất tham chiếu áp dụng đối với các khoản vay không có Tài sản bảo đảm dành cho Khách hàng cá nhân tại V1 được V1 công bố (được niêm yết tại website: www.V1.com.vn )có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh.

- Hợp đồng số LN2010052850938 ký ngày 26/10/2020:

Số tiền vay 400.000.000 đồng,

Thời hạn vay 120 tháng,

Mục đích vay: Vay tiêu dùng mua sắm nội thất gia đình.

Lãi suất cho vay: Tại thời điểm giải ngân là 11%/năm, lãi suất cố định trong vòng 12 tháng, mức lãi suất được điều chỉnh 3 tháng/ 1 lần vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07 và 01/10, ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 30/10/2021, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày 01/01/2022; mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng lãi suất cơ sở VNĐ của bên ngân hàng đang áp dụng tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ: 3%/năm.

Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 đã trả được tổng số tiền là 250.757.070 đồng; trong đó trả nợ gốc là 106.650.143 đồng và trả nợ lãi là 144.106.927 đồng. Cụ thể:

+ Hợp đồng số LN2010052850938 ký ngày 26/10/2020, tạm tính đến ngày 18/07/2024, anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 đã trả được 99.271.486 đồng, trong đó trả nợ gốc là 41.308.998 đồng, trả nợ lãi là 57.962.488 đồng.

+ Hợp đồng số LN2008182679407 ký ngày 26/08/2020, tạm tính đến ngày 18/07/2024, anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 đã trả được 151.485.584 đồng, trong đó trả nợ gốc là 65.341.145 đồng, trả nợ lãi là 86.144.439 đồng.

Anh N và chị T3 đã vi phạm Hợp đồng từ ngày 15/4/2022 và bị chuyển nợ quá hạn theo quy định tại Hợp đồng cho vay. Tạm tính đến ngày 18/7/2024, anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 còn nợ V1 số tiền là:

  • + Nợ gốc : 793.349.857 đồng
  • + Nợ lãi : 347.989.447 đồng
  • + Lãi chậm trả: 43.818.836 đồng
  • + Tổng cộng : 1.185.158.140 đồng;

Cụ thể từng Hợp đồng:

- Hợp đồng LN2010052850938 ký ngày 26/10/2020 tổng số tiền nợ là: 537.072.254 đồng, trong đó, nợ gốc là 358.691.002 đồng, nợ lãi trong hạn là 10,091,048 đồng, nợ lãi quá hạn là 148,123,347 đồng, nợ lãi chậm trả 20.166.857 đồng;

-Hợp đồng số LN2008182679407 ký ngày 26/08/2020 tổng số tiền nợ là 648.085.886 đồng, trong đó, nợ gốc là 434.658.855 đồng, nợ lãi trong hạn là 12.176.715 đồng, nợ lãi quá hạn là 177.598.337 đồng, nợ lãi chậm trả là 23.651.979 đồng.Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 phải thanh toán cho V1 toàn bộ số nợ gốc và lãi trên. Kể từ ngày

19/7/2024, anh N và chị T3 phải tiếp tục thanh toán nợ lãi phát sinh đối với số dư nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận tại các Hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ cho V1.Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là chị Hoàng Thị T3 không đến Tòa án làm việc, không trình bày quan điểm về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên bị đơn là anh Nguyễn Văn N xác xác nhận anh và chị T3 có ký các hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tại ngân hàng đối với các khoản vay trên, anh N có trình bày về hoàn cảnh khó khăn, đề nghị Ngân hàng giảm lãi, giảm phạt, giảm gốc để tạo điều kiện cho ông bà giải quyết dứt điểm hợp đồng.Hội đồng xét xử nhận thấy: Các bên tham gia hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, trên cơ sở tự nguyện, các thỏa thuận có nội dung và mục đích để thực hiện nhu cầu của mỗi bên, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, hợp đồng tín dụng có hiệu lực buộc các bên phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại hợp đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bên cho vay là Ngân hàng đã giải ngân, anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 đã nhận đủ số tiền vay theo hợp đồng tín dụng. Như vậy, Ngân hàng đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo hợp đồng. Việc anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 o thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng như đã cam kết là vi phạm nghĩa vụ trả nợ do các bên thỏa thuận. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị Thu thanh t cho Ngân hàng số tiền gốc, tiền lãi và tiền phạt vi phạm hợp đồng tạm tính đến hết ngày 18/7/2024 và tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh theo lãi suất quy định tại các Hợp đồng cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ là có cơ sở và phù hợp với thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng cũng như với các quy định tại Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có căn cứ chấp nhận.Do đại diện nguyên đơn tự nguyện rút yêu cầu về số tiền phạt chậm trả tạm tính đến ngày 16/4/2024 là 65.500.710 đồng nên HĐXX đình chỉ giải quyết yêu cầu tiền phạt chậm trả của Ngân hàng.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V về xử lý tài sản bảo đảm:Để đảm bảo cho Hợp đồng tín dụng, anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 đã thế chấp tài sản bảo đảm là:

Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 21-5e1, Tờ bản đồ số 5, tại địa chỉ khu P, phường P, Thị xã S, thành phố Hà Nội, theo “Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất” số CI 873038, Số vào sổ cấp GCN: CS-ST05571 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 13/06/2017 đứng tên anh Nguyễn Văn N. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp số 3252/2020; Quyển số 03-2020 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/08/2020 tại Văn phòng C

HĐXX xét thấy: Hợp đồng được ký bởi người đại diện hợp pháp của bên nhận thế chấp với bên thế chấp là chủ sở hữu tài sản hợp pháp. Các bên tham gia hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, trên cơ sở tự nguyện, các thỏa thuận có nội dung và mục đích được thực hiện quy nghĩa vụ của mỗi bên, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn

liền với đất được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm nên có hiệu lực buộc các bên phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại hợp đồng. Do vậy yêu cầu về việc Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của các khoản vay nói trên là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 21-5e1, Tờ bản đồ số 5, tại địa chỉ khu P, phường P, Thị xã S, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CI 873038, Số vào sổ cấp GCN: CS-ST05571 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 13/06/2017 đứng tên anh Nguyễn Văn N để thu hồi nợ cho Ngân hàng là có căn cứ chấp thuận.

[5] Về án phí: Do các yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 47.554.744 đồng.Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V Thịnh vượng tiền tạm ứng án phí đã nộp là 18.500.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Sơn Tây.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 321, Điều 322, Điều 323, Điều 327, Điều 463, Điều 464, Điều 465, Điều 466, Điều 467, Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 244, Điều 259, Điều 271, Điều 273, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 3 Điều 90, khoản 2 Điều 91; Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

Áp dụng Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 26 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (V1) với anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3.
  2. Buộc anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị Thu thanh t cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V tổng số tiền cả gốc và lãi tạm tính đến hết ngày 18/7 /2023 là: 1.185.158.140 (Một tỷ một trăm tám mươi lăm triệu một trăm năm mươi tám nghìn một trăm bốn mươi đồng), bao gồm:
    • + Nợ gốc: 793.349.857 (Bảy trăm chín mươi ba triệu ba trăm bốn mươi chín nghìn tám trăm năm mươi bảy đồng)
    • + Nợ lãi: 347.989.447 (Ba trăm bốn mươi bảy triệu chín trăm tám mươi chín nghìn bốn trăm bốn mươi bảy đồng)
    • + Lãi chậm trả: 43.818.836 (Bốn mươi ba triệu tám trăm mười tám nghìn tám trăm ba mươi sáu đồng)

    - Theo Hợp đồng số LN2008182679407 ký ngày 26/08/2020 và Hợp đồng LN2010052850938 ký ngày 26/10/2020, cụ thể như sau:

  1. - Hợp đồng LN2010052850938 ký ngày 26/10/2020 tổng số tiền nợ là: 537.072.254 đồng, trong đó, nợ gốc là 358.691.002 đồng, nợ lãi trong hạn là 10.091.048 đồng, nợ lãi quá hạn là 148.123.347 đồng, nợ lãi chậm trả 20.166.857 đồng;

    - Hợp đồng số LN2008182679407 ký ngày 26/08/2020 tổng số tiền nợ là 648.085.886 đồng, trong đó, nợ gốc là 434.658.855 đồng, nợ lãi trong hạn là 12.176.715 đồng, nợ lãi quá hạn là 177.598.337 đồng, nợ lãi chậm trả là 23.651.979 đồng.

    Buộc anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 kể từ ngày 19/7/2024 tiếp tục phải chịu lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng số LN2008182679407 ký ngày 26/08/2020 và Hợp đồng LN2010052850938 ký ngày 26/10/2020 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

  2. Nếu anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại các tài sản bảo đảm là:

    Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 21-5e1, Tờ bản đồ số 5, tại địa chỉ khu P, phường P, Thị xã S, thành phố Hà Nội, theo “Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất” số CI 873038, Số vào sổ cấp GCN: CS-ST05571 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 13/06/2017 đứng tên anh Nguyễn Văn N. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp số 3252/2020; Quyển số 03-2020 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/08/2020 tại Văn phòng C

    Trường hợp phải xử lý tài sản bảo đảm thì những người đang cư trú, cùng quản lý, sử dụng, thuê mượn trên các thửa đất trên cùng phải chuyển đi để thi hành án.

    Trong trường hợp tài sản phát mại không đủ trả nợ khoản vay thì anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V cho đến khi trả hết nợ.

  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  4. Về án phí: Anh Nguyễn Văn N và chị Hoàng Thị T3 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 47.554.744 đồng (Bốn mươi bảy triệu năm trăm năm mươi tư nghìn bảy trăm bốn mươi bốn đồng)

    Hoàn trả Ngân hàng Thương mại Cổ phần V Thịnh vượng tiền tạm ứng án phí đã nộp là 18.500.000 (Mười tám triệu năm trăm nghìn đồng) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0000773 ngày 14/11/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Sơn Tây.

  1. Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân TP Hà Nội;
  • - Viện KSND TX Sơn Tây;
  • - Chi cục THADS TX Sơn Tây;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Ngô Quốc Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/DS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 16/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NH V khởi kiện ông N, bà T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger