Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ỨNG HÒA-TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/DS-ST

Ngày 18 tháng 7 năm 2024

(V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Minh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vân và ông Đặng Viết Hùng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Khuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 94/2023/TLST- DS ngày 01 tháng 12 năm 2023 về Tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 16/2024/QĐHPT-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K (gọi tắt: Ngân hàng T1)
  2. Địa chỉ: số F, Q, phường T, quận H, TP .

    Người Đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Hùng A – Chủ tịch hội đồng quản trị

    Đại diện theo ủy quyền lại: Ông Lê Việt P – cán bộ ngân hàng (Có mặt)

    (Giấy ủy quyền số 545-03/2023/UQ-TCB ngày 23/6/2023)

  3. Bị đơn: anh Nguyễn Ngọc T – sinh năm: 1972 (Có mặt)
  4. Chị Trần Thị H – sinh năm: 1977 (Vắng mặt)

    Đều HKTT: thôn P, xã P, huyện Ứ, TP .

  5. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    • Anh Nguyễn Ngọc T – sinh năm: 1972 (Có mặt)
    • Chị Trần Thị H – sinh năm: 1977 (Vắng mặt)
    • Cháu Nguyễn Thị Hồng H1 – sinh năm: 2006 (Vắng mặt)
    • Cháu Nguyễn Hải Đ – sinh năm: 1998 (Vắng mặt)

    Đều HKTT: thôn P, xã P, huyện Ứ, TP .

    (Chị Trần Thị H có văn bản uỷ quyền cho anh Nguyễn Ngọc T)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Tại Đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án - đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
  2. Hợp đồng tín dụng số NGG201427/HĐTD ngày 11/9/2014 và Khế ước nhận nợ số NGG20142701 ngày 19/9/2014 với nội dung cụ thể như sau: Số tiền vay: 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng chẵn); Mục đích vay: Hộ kinh doanh vay món; Thời hạn vay: 84 tháng; Ngày đến hạn trả nợ cuối cùng: 19/9/2021; Lãi suất vay: Lãi suất vay linh hoạt áp dụng trong thời gian 03 tháng kể từ ngày nhận nợ là 8,99%/năm; thời gian tiếp theo, lãi suất được điều chỉnh 01 tháng/1 lần vào các ngày 15 hàng tháng và bằng Lãi Suất Cơ Sở dài hạn cộng (+) biên độ 5,39%/năm, nhưng không thấp hơn lãi suất cho vay tối thiểu được T1 quy định theo từng thời kỳ, tương ứng từng đối tượng khách hàng.

    Để bảo đảm cho khoản vay trên, ông Nguyễn Ngọc T đã thế chấp: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 118, tờ bản đồ số 13 tại địa chi: Thôn P, xã P, huyện Ứ, thành phố Hà Nội; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO 347920, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH00885 do UBND huyện Ứ cấp ngày 25/11/2013 cho Hộ ông Nguyễn Ngọc T; đính chính thông tin ông Nguyễn Ngọc T nhận tặng cho ngày 09/9/2014 tại Phòng T2, thành phố Hà Nội; Hợp đồng thế chấp số công chứng 1037.2014/TC-ĐĐ/TCB ngày 12/9/2014 tại Văn phòng C, thành phố Hà Nội, đã đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 16/9/2014.

    Trong quá trình thực hiện hợp đồng, vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T và bà Trần Thị H đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết. Từ thời điểm được giải ngân đến nay, ông Nguyễn Ngọc T và bà Trần Thị H chỉ trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là: 66.645.653 đồng và số tiền nợ lãi là: 68.845.937 đồng. Ngân hàng đã nhiều lần gửi thông báo, công văn yêu cầu trả nợ theo như thỏa thuận tại hợp đồng và khế ước nhận nợ, cam kết trả nợ. Tuy nhiên, ông Nguyễn Ngọc T và bà Trần Thị H đều vi phạm cam kết, không thực hiện theo yêu cầu của Ngân hàng, cố tình kéo dài thời gian và trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Tính đến ngày 04/6/2024 dư nợ của vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T và bà Trần Thị H tại Ngân hàng TMCP K cụ thể như sau:

    • Nợ gốc: 333.354.347 đồng
    • Nợ lãi: 688.880272 đồng
    • Tổng nợ: 1.022.234.619 đồng.

    Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng TMCP K khởi kiện vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T và bà Trần Thị H ra trước Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòà, thành phố Hà Nội. Kính đề nghị quý Tòa giải quyết các vấn đề sau:

    + Buộc vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T và bà Trần Thị H thanh toán cho Ngân hàng TMCP K số tiền gốc, lãi tạm tính đến ngày 04/6/2024 là:

    • Nợ gốc: 333.354.347 đồng
    • Nợ lãi: 688.880272 đồng
    • Tổng nợ: 1.022.234.619 đồng.

    Vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T và bà Trần Thị H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP K tiền lãi phát sinh theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng số NGG201427/HĐTD kể từ ngày 05/6/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

    4.2 Buộc vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T và bà Trần Thị H phải trả cho Ngân hàng TMCP K tiền phạt vi phạm hợp đồng, số tiền là 26.668.347 đồng. Theo quy định tại Điểm 13.1 Điều 13 Hợp đồng tín dụng số NGG201427/HĐTD, vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T và bà Trần Thị H phải chịu mức phạt vi phạm hợp đồng là 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm, với số tiền là 8% x 333.354.347 đồng = 26.668.347 đồng.

    4.3. Chấp thuận yêu cầu của Ngân hàng TMCP K về việc xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ, cụ thế: Kể từ ngày Bản án/Quyết định có hiệu lực pháp luật, vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T và bà Trần Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh, thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại toàn bộ tài sản bảo đảm cho khoản nợ của vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T và bà Trần Thị H để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng. Tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của thừa đất số 118, tờ bản đồ số 13 tại địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện Ứ, thành phố Hà Nội; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền đất số BO 347920, số vào sổ CH00885 do UBND huyện Ứ cấp ngày 25/11/2013 cho Hộ ông Nguyễn Ngọc T; đính chính thông tin ông Nguyễn Ngọc T nhận tặng cho ngày 09/9/2014 tại Phòng T2, thành phố Hà Nội; Hợp đồng thế chấp số công chứng 1037.2014/TC-ĐĐ/TCB ngày 12/9/2014 tại Văn phòng C, thành phố Hà Nội, đã đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 16/9/2014.

    Án phí: bị đơn phải chịu toàn bộ án phí theo quy định

  3. Tại Biên bản lấy lời khai và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, bị đơn, đại diện theo uỷ quyền của bị đơn chị Trần Thị H là anh Nguyễn Ngọc T trình bày:
  4. ngày 11/9/2014, vợ chồng anh có vay tiền của ngân hàng T1 số tiền 400.000.000 đồng hai bên có ký hợp đồng tín dụng như ngân hàng xuất trình là đúng. Anh chị đã nhận đủ số tiền trên vào ngày 19/9/2014.

    Để đảm bảo cho khoản vay trên thì vợ chồng anh T, chị H có thế chấp cho ngân hàng 01 quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 118, tờ bản đồ số 13, diện tích 173.4m2 tọa lạc tại thôn P, xã P, huyện Ứ, TP . Thửa đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 347920, vào sổ cấp giấy CH 00885 do UBND huyện Ứ cấp cho anh Nguyễn Ngọc T ngày 09/9/2014.

    Quá trình thực hiện hợp đồng, vợ chồng anh đã thanh toán trả ngân hàng được một khoản cả gốc và lãi. Tính đến ngày 04/6/2024, vợ chồng anh còn nợ ngân hàng số tiền gốc và lãi, phạt vi phạm hợp đồng là:

    • Nợ gốc: 333.354.347 đồng
    • Nợ lãi: 688.880272 đồng
    • Tổng nợ: 1.022.234.619 đồng.

    Quan điểm của anh Nguyễn Ngọc T đề nghị: Do làm ăn khó khăn nên anh chị không trả được nợ cho ngân hàng theo như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Anh mong Tòa án và Ngân hàng T3 điều kiện cho vợ chồng anh về mặt thời gian cho anh chị trả tiền nợ gốc và xin ngân hàng miễn toàn bộ lãi cho gia đình anh. Trường hợp anh chị không trả được nợ thì anh chị sẽ chấp hành quy định của pháp luật về thế chấp tài sản.

    Trên đất thế chấp hiện có, vợ anh là Trần Thị H, con gái anh là Nguyễn Thị Hồng H1 đang sinh sống.

    Toàn bộ tài sản trên đất là của vợ chồng anh xây dựng, không liên quan đến các con anh vì thời điểm xây các con anh con nhỏ. Tài sản thế chấp từ thời điểm thế chấp đến nay không có thay đổi gì, không có tranh chấp với bất kỳ ai.

    Về án phí: anh đồng ý chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật. Anh có đơn xin miễn giảm tiền án phí, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, TP . xem xét miễn giảm án phí cho vợ chồng anh.

    Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp ngày 12/4/2024 thể hiện: tài sản thế chấp vẫn giữ nguyên hiện trạng, không có thay đổi gì so với thời điểm thế chấp; hiện tại không có tranh chấp với ai; Trên đất anh Nguyễn Ngọc T, chị Trần Thị H và cháu Nguyễn Thị Hồng H1 sinh sống, ngoài ra không còn ai khác.

    Tại phiên tòa: nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về: Rút yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T và bà Trần Thị H phải chịu tiền phạt vi phạm hợp đồng, số tiền là 26.668.347 đồng.

    Rút yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T và bà Trần Thị H phải trả phần lãi phạt chậm trả tính đến ngày 04/6/2024 là 175.339.001 đồng và lãi phạt phát sinh từ ngày 05/6/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

    Nguyên đơn vẫn giữ nguyên những yêu cầu khởi kiện còn lại và đề nghị Toà án buộc vợ chồng ông Nguyễn Ngọc T, bà Trần Thị H phải thanh toán trả Ngân hàng T4 tổng số tiền tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 18/7/2024 là:

    • - Tổng nợ: 855.235.885 đồng
    • - Nợ gốc: 333.354.347 đồng
    • - Nợ lãi: 521.881.538 đồng
    • - Trong đó:
    • + Nợ lãi trong hạn: 132.883.125 đồng
    • + Nợ lãi quá hạn: 388.998.413 đồng

    Tại phiên toà: anh Nguyễn Ngọc T có quan điểm: xin trả dần nợ gốc và xin được miễn toàn bộ tiền lãi. Xin Hội đồng xét xử xem xét miễn giảm tiền án phí cho bị đơn.

    Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt, không có quan điểm trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, tạo điều kiện cho họ được trình bày quan điểm, tiến hành hòa giải theo đúng quy định. Hội đồng tiến hành xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào quy định của pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử xử: Chấp nhận yêu cầu xin rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận những yêu cầu khởi kiện còn lại của nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K, buộc anh Nguyễn Ngọc T và chị Trần Thị H phải thanh toán trả Ngân hàng T1 số tiền nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn cho đến khi tất toán hết các khoản vay theo hợp đồng đã ký với ngân hàng. Trường hợp anh T, chị H không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng T1 có quyền yêu cầu Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo theo quy định của pháp luật. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp hợp đồng tín dụng quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Ngân hàng T1 đã khởi kiện đã làm đơn theo đúng mẫu, nộp tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật nên Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Bị đơn anh Nguyễn Ngọc T và chị Trần Thị H, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt không có lý do. Toà án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Hồng H1, anh Nguyễn Hải Đ vẫn vắng mặt tại phiên toà xét xử vụ án không có lý do chính đáng nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là đúng theo quy định tại Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.

[2] Về việc vay nợ giữa anh T, chị H với Ngân hàng T1 theo yêu cầu khởi kiện của ngân hàng: Ngân hàng và anh T chị H có ký kết Hợp đồng tín dụng số NGG201427/HĐTD ngày 11/9/2014 và Khế ước nhận nợ số NGG20142701 ngày 19/9/2014 vay với số tiền là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng chẵn); Hợp đồng tín dụng được ký kết trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo theo quy định của pháp luật. Quá trình thực hiện hợp đồng, anh T, chị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 19/01/2015 của từng kỳ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết. Đến ngày 19/9/2021 hết thời hạn vay 84 tháng nhưng anh T, chị H không thanh toán được trả ngân hàng như đã cam kết. Do đó, anh chị phải chịu mức lãi suất quá hạn tương ứng với nợ gốc quá hạn là phù hợp với nội dung thỏa thuận của hai bên đã được ký kết trong Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ, phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán số tiền tạm tính đến hết ngày 18/7/2024 là:

  • - Tổng nợ: 855.235.885 đồng
  • - Nợ gốc: 333.354.347 đồng
  • - Nợ lãi: 521.881.538 đồng
  • - Trong đó:
  • + Nợ lãi trong hạn: 132.883.125 đồng
  • + Nợ lãi quá hạn: 388.998.413 đồng

Buộc anh T, chị H phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng kể từ ngày 19/7/2024 cho đến khi thanh toán hết dư nợ gốc tương ứng với thời gian chậm trả.

[3] Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của phía Ngân hàng có đơn xin rút yêu cầu về phạt vi phạm hợp đồng số tiền là 26.668.347 đồng và rút yêu cầu đối với khoản lãi phạt chậm trả tính đến ngày 04/6/2024 là 175.339.001 đồng và tiền lãi phạt phát sinh từ ngày 05/6/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Xét việc rút 02 yêu cầu này là hợp pháp và tự nguyện nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận và đình chỉ yêu cầu về khoản phạt vi phạm hợp đồng và lãi phạt chậm trả tính đến ngày 04/6/2024 và lãi phạt phát sinh từ ngày 05/6/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

[4] Về yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp thì thấy: Khi ký kết hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận biện pháp bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 118, tờ bản đồ số 13 tại địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện Ứ, thành phố Hà Nội; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO 347920, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH00885 do UBND huyện Ứ cấp ngày 25/11/2013 cho Hộ ông Nguyễn Ngọc T; đính chính thông tin ông Nguyễn Ngọc T nhận tặng cho ngày 09/9/2014 tại Phòng T2, thành phố Hà Nội; Hợp đồng thế chấp số công chứng 1037.2014/TC-ĐĐ/TCB ngày 12/9/2014 tại Văn phòng C, thành phố Hà Nội, đã đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 16/9/2014. Hội đồng xét xử nhận thấy: Hợp đồng thế chấp được lập đúng theo quy định của pháp luật. Như vậy, thoả thuận về tài sản đảm bảo khoản vay là hợp pháp. Do đó, khi bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ (không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ) thì Ngân hàng T1 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ là có căn cứ.

Trường hợp phát mại tài sản không đủ để thu hồi nợ thì bị đơn tiếp tục phải trả nợ cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng. Nếu số tiền phát mại tài sản lớn hơn số tiền nợ thì phải trả lại cho chủ tài sản số tiền còn thừa.

Sau khi phía bị đơn thanh toán xong các khoản nợ trên cho Ngân hàng, thì Ngân hàng có nghĩa vụ làm thủ tục giải chấp tài sản thế chấp nêu trên cho chủ tài sản bảo đảm.

Trên đất ngoài vợ chồng anh T, chị H ra thì còn có cháu Nguyễn Thị Hồng H1 sinh sống. Trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp thì buộc bị đơn, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phải bàn giao tài sản thế chấp để cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.

[5] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đoan phải chịu án phí theo quy định là: 37,657,077 đồng; Quá trình xây dựng hồ sơ, anh T có đơn đề nghị xác nhận vợ chồng anh hiện đang khó khăn về kinh tế để xin miễn giảm tiền án phí. Hội đồng xét xử nhận thấy, vợ chồng anh T có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, công việc không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử, chấp nhận đơn đề nghị của anh T miễn giảm một phần án phí cho anh T, chị H là có căn cứ theo quy định tại Nghị quyết 326/2016 NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bản thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6]. Quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; 271; 273; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 91; 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Căn cứ các Điều 292 đến 308; Điều 317 đến 324; 463; 466; 468; 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 01/2019/NQ – HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt, vi phạm; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bản thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng TMCP K với bị đơn anh Nguyễn Ngọc T, chị Trần Thị H

  1. Buộc anh Nguyễn Ngọc T và chị Trần Thị H phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP K tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 18/7/2024 của Hợp đồng tín dụng số NGG201427/HĐTD ngày 11/9/2014 và Khế ước nhận nợ số NGG20142701 ngày 19/9/2014 là:
    • - Tổng nợ: 855.235.885 đồng
    • - Nợ gốc: 333.354.347 đồng
    • - Nợ lãi: 521.881.538 đồng
    • - Trong đó:
    • + Nợ lãi trong hạn: 132.883.125 đồng
    • + Nợ lãi quá hạn: 388.998.413 đồng

    Đình chỉ yêu cầu buộc anh Nguyễn Ngọc T, chị Trần Thị H thanh toán cho Ngân hàng TMCP K tiền phạt vi phạm hợp đồng với số tiền là 26.668.347 đồng và đình chỉ yêu cầu đối với khoản lãi phạt chậm trả tính đến ngày 04/6/2024 là 175.339.001 đồng và tiền lãi phạt phát sinh từ ngày 05/6/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

    Kể từ ngày 19/7/2024, anh Nguyễn Ngọc T, chị Trần Thị H tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo mức lãi suất đã được thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký kết nêu trên cho đến khi thanh toán xong toàn bộ các khoản nợ tương ứng với thời gian chậm trả.

  2. Trường hợp vợ chồng anh Nguyễn Ngọc T, chị Trần Thị H không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền nợ nêu trên cho Ngân hàng TMCP K thì Ngân hàng được quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để bảo đảm thu hồi toàn bộ các khoản nợ cho ngân hàng, cụ thể là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 118, tờ bản đồ số 13 tại địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện Ứ, thành phố Hà Nội; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BO 347920, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH00885 do UBND huyện Ứ cấp ngày 25/11/2013 cho Hộ ông Nguyễn Ngọc T; đính chính thông tin ông Nguyễn Ngọc T nhận tặng cho ngày 09/9/2014 tại Phòng T2, thành phố Hà Nội; Hợp đồng thế chấp số công chứng 1037.2014/TC-ĐĐ/TCB ngày 12/9/2014 tại Văn phòng C, thành phố Hà Nội, đã đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 16/9/2014.
  3. Trong quá trình xử lý tài sản thế chấp thì những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc T, chị Trần Thị H, cháu Nguyễn Thị Hồng H1 và những người khác thực tế sinh sống trên đất đều phải có trách nhiệm bàn giao tài sản cho bên thế chấp để đảm bảo thi hành án theo quy định của pháp luật.
  4. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng T1 thì anh T, chị H có nghĩa vụ tiếp tục trả hết số tiền còn nợ Ngân hàng. Trường hợp xử lý tài sản thế chấp giá trị lớn hơn khoản nợ thì số tiền chênh lệch phải trả lại cho chủ sở hữu tài sản.

    Sau khi phía bị đơn thanh toán xong các khoản nợ trên cho Ngân hàng, thì Ngân hàng có nghĩa vụ làm thủ tục giải chấp tài sản thế chấp nêu trên cho chủ tài sản bảo đảm.

    Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  5. Về án phí: Anh Nguyễn Ngọc T, chị Trần Thị H phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 37,657,077 đồng; Giảm cho anh T, chị H ½ tiền án phí là 18,828,538 đồng. Số tiền án phí anh chị còn phải nộp là: 18,828,538 đồng.
  6. Hoàn trả nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 19.839.475 đồng (Mười chín triệu, tám trăm ba mươi chín nghìn, bốn trăm bảy mươi lăm đồng) đã nộp tại biên lai số 0011539 ngày 01/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa, Tp .

  7. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã nơi thường trú đối với người vắng mặt./.

Nơi nhận:

  • - TANDTP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Ứng Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Ứng Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thanh Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/DS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 16/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger