|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2024/HS-PT Ngày: 18 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm Phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Pho.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Như Mai và ông Nguyễn Minh Thành.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lương – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Ngọc Lam - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Kon Tum xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo A K do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2024/HS-ST ngày 09/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum.
- Bị cáo có kháng cáo:
A K, sinh ngày 20/10/1999 tại Kon Tum; nơi cư trú: Thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Xơ Đăng; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông A K1 và bà Y B; tiền sự: Không.
Tiền án: Bản án số 04/2020/HS-PT ngày 04/3/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum xử phạt bị cáo 26 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/02/2022.
Về nhân thân: Ngày 19/7/2017, A K đánh nhau gây thương tích, bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính, phạt tiền 375.000 đồng, theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 400/QĐ-XPHC, ngày 23/10/2017. Bị cáo đã nộp phạt ngày 07/11/2017.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 03/10/2023. (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đặng Thị Kim N - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh K. (có mặt)
Địa chỉ: Số B T, thành phố K, tỉnh Kon Tum.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 01/10/2023, bị cáo A K cùng với nhóm thanh niên, gồm: A T, A D, A D1, A B1, A H, A Đ, A H1 ngồi chơi ở khu vực ngã ba xã N thì gặp A Pu R điều khiển xe mô tô từ xã N đi ra. Thấy có người lạ và tiếng ống bô xe nổ to, A T đi đến chặn xe và hỏi A Pu R (ở làng nào, có quen ai ở làng T không), rồi dùng tay, chân đánh. Thấy vậy, A K cũng tới dùng tay đấm mạnh 02 cái vào vùng vai của A Pu R. Thấy A T tiếp tục đánh A Pu R nhiều quá nên A K kéo A Pu R đi ra vườn cao su, cách vị trí đánh khoảng 20 m, khuất tầm nhìn của những người khác. Tại đây, A K dùng tay móc vào túi quần bên phải của A Pu R lấy số tiền 200.000 đồng. Do vừa bị đánh nên A Pu R hoảng sợ, không dám phản kháng. Sau khi lấy tiền, A K cất tiền vào túi quần của mình và kéo A Pu R về lại chỗ ban đầu. Lo sợ bị đánh nên A Pu R xin đi vệ sinh rồi bỏ chạy về nhà.
Kết luận giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của A Pu R là 0%.
Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2024/HS-ST ngày 09/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum quyết định như sau:
Tuyên bố bị cáo A K phạm tội “Cướp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 168; điểm b, h khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo A K 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 03/10/2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 11/4/2024 bị cáo A K kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên, không thay đổi, bổ sung hay rút kháng cáo.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo. Bị cáo bị truy tố, xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự với mức hình phạt từ 03 năm đến 10 năm tù, bị cáo bị áp dụng 01 tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 03 năm 06 tháng tù là có cơ sở. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đó là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần thiết áp dụng cho bị cáo. Do đó, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự -
Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm về mức hình phạt, xử phạt bị cáo 03 năm 03 tháng tù, giảm 03 tháng tù so với mức án tại cấp sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo tranh luận: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đó là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần thiết áp dụng cho bị cáo. Do đó, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự - Chấp nhận kháng cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm về mức hình phạt đối với bị cáo A K, giảm 06 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 21 giờ ngày 01/10/2023, bị cáo A K dùng vũ lực, dùng tay đánh rồi dẫn anh A Pu R ra chỗ vắng, làm cho anh A Pu R hoảng sợ, lâm vào tình trạng không thể chống cự được, móc túi lấy 200.000 đồng. Với hành vi trên, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo A K về tội “Cướp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.
[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:
Bị cáo là người có nhân thân xấu. Đã từng bị xử phạt 26 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” mới chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/02/2022, chưa được xóa án tích. Lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm” xác định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Thể hiện sự manh động, bất chấp, coi thường pháp luật. Do đó, việc xử lý nghiêm hành vi phạm tội của bị cáo là cần thiết.
Bị cáo bị truy tố, xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự với mức hình phạt từ 03 năm đến 10 năm tù. Cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiện, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Do đó, cấp phúc thẩm cần thiết áp dụng tình tiết giảm nhẹ mới “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo tốt trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Từ những phân tích nêu trên, chấp nhận kháng cáo của bị cáo A K. Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 09/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum về mức hình phạt, giảm cho bị cáo A K 06 tháng tù.
[3]. Về án phí: Đơn kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo A K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo A K – Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 09/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum về phần hình phạt.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 168; điểm b, s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo A K phạm tội “Cướp tài sản”.
Xử phạt bị cáo A K 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 03/10/2023.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Bị cáo A K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Minh Thành Nguyễn Thị Như Mai |
Nguyễn Văn P |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Pho |
Bản án số 16/2024/HS-PT ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM về hình sự về tội cướp tài sản
- Số bản án: 16/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo A Kiều phạm tội Cướp tài sản
