Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HNGĐ-PT

Ngày 18 - 6 - 2024

V/v Tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hà

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trọng Quế

Bà Đinh Cẩm Đào

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:

Ông Bùi Trung Biển - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 14/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp xin ly hôn”.

Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 37/2024/HNGĐ-ST ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐ-PT ngày 21 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Bào Trung H, sinh năm 1993; Địa chỉ: Số C N, khóm C, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn: Chị Đặng Thị Trâm A, sinh năm 1993; Địa chỉ: Số A QL1A ấp A, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Huỳnh Công D, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ngân hàng TMCP N; Địa chỉ: Số G, A, phường G, thành phố C.

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng:

Ông Trần Duy L – Trưởng phòng khách hàng thuộc Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh C1 (vắng mặt).

Ông Hồng Quốc D1 – Phó Trưởng phòng khách hàng thuộc Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh C1 (có mặt).

2. Ông Đặng Thành Đ, sinh năm 1964; Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

3. Ông Bào Thanh H1, sinh năm 1968; Địa chỉ: Số C, đường N, khóm C, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

4. Bà Trương Hồng C, sinh năm 1964; Địa chỉ: Số A QL1A ấp A, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

5. Bà Ngô Thanh T, sinh năm 1966; Địa chỉ cư trú: Số C đường N, khóm C, Phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Người kháng cáo: Chị Đặng Thị Trâm A, là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Anh Bào Trung H trình bày tại đơn khởi kiện và được bổ sung tại phiên tòa như sau:

- Về hôn nhân: Năm 2022 anh H và chị Trâm A xác lập quan hệ vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống hai người xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, có cự cãi, không hợp nhau. Chị Trâm A không rõ ràng về tiền bạc. Anh H lo công việc nhà. Mẹ vợ là bà Trương Hồng C có ý định chia rẽ vợ chồng anh. Anh chị đã ly thân từ tháng 7/2023, giao căn nhà và quầy thuốc Tây cho chị Trâm A quản lý, bán thuốc đến nay. Cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên anh H xin ly hôn với chị Trâm A.

- Về con chung: Anh H và chị Trâm A không có con chung.

- Về tài sản chung: Quá trình chung sống vợ chồng có tài sản chung gồm 01 căn nhà và đất diện tích 117,8m² thửa số 35, tờ bản đồ số 13 tại số A, ấp A, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau, anh chị được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 24/5/2023. Nguồn gốc nhà và đất vợ chồng anh nhận chuyển nhượng của bà Mai Kim L1 với giá 1.550.000.000 đồng. Nguồn tiền nhận chuyển nhượng của cha mẹ hai bên cho mượn. Trong đó, mẹ vợ là bà Trương Hồng C cho mượn 500.000.000 đồng, mẹ ruột anh là bà Ngô Thanh T cho mượn 751.783.000 đồng (tiền mua nhà 650.000.000 đồng, chi tiền sửa chữa nhà 50.000.000 đồng, mua tủ bán thuốc tây 40.000.000 đồng, tiền đóng lãi Ngân hàng 11.783.000 đồng). Cha mẹ hai bên cho mượn không có làm giấy tờ. Anh yêu cầu nhận căn nhà và đất và trả hết các khoản nợ, nếu còn thừa anh đồng ý chia đôi.

Ngoài ra, anh yêu cầu chị Trâm A chia đôi 22 chỉ vàng 24 (trong đó mẹ ruột anh cho 20 chỉ vàng 24k, dì ruột là bà Ngô Thúy L2 cho 01 chỉ vàng 24k, dì tư là bà Kiều Kim O cho 01 chỉ vàng 24k), mỗi người nhận 11 chỉ vàng 24k. Chị Trâm A quản lý nên yêu cầu giao lại cho anh 11 chỉ vàng 24k và chia đôi chi phí đầu tư tiền mua thuốc tây khoảng 100.000.000 đồng.

- Về nợ chung: Anh chị có nợ chung gồm:

+ Tháng 6/2023, anh H và chị Trâm A có vay của Ngân hàng N, Chi nhánh C1 (V) số tiền 400.000.000 đồng và thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do vợ chồng anh chị đứng tên. Chỉ thanh toán lãi, chưa trả vốn.

+ Nợ bà Ngô Thanh T số tiền 751.783.000 đồng

+ Nợ bà Trương Hồng C số tiền 500.000.000 đồng

Ngoài ra, tại thời điểm vợ chồng anh sống riêng bà T có cho mượn 28 món đồ (kèm theo bảng kê “Danh mục tài sản” ngày 05/10/2023).

Bị đơn chi Đặng Thị Trâm A trình bày:

- Về hôn nhân: Về thời gian chung sống, điều kiện kết hôn đúng như anh H trình bày. Quá trình chung sống vợ chồng không có mâu thuẫn. Sau khi cưới vợ chồng sống chung nhà cha mẹ chồng. Hai vợ chồng mới sống riêng hơn 01 tháng nay tại ấp A, xã T. Do chị bán thuốc tây không có thời gian nên công việc nhà để anh H làm tiếp. Còn chuyện tiền bạc chị vẫn để anh H lấy chi xài, chị không có ý kiến. Mẹ ruột chị khi nóng giận có nói vợ chồng không sống được thì ly hôn, chứ không có ý muốn cho ly hôn. Chị còn thương anh H nên không muốn ly hôn. Nếu anh H cương quyết ly hôn thì chị đồng ý.

- Về con chung: Anh H và chị Trâm A không có con chung.

- Về tài sản chung: Quá trình chung sống vợ chồng có tài sản chung gồm 01 căn nhà và đất diện tích 117,8m² thửa số 35, tờ bản đồ số 13 tại số A, ấp A, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau, anh chị được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 24/5/2023. Chị đồng ý chia đôi giá trị nhà, đất và tài sản trong nhà (bao gồm tủ thuốc và các vật dụng trong nhà 27 món kèm theo bảng kê “Danh mục tài sản” ngày 05/10/2023) tổng cộng 1.600.000.000 đồng (một tỷ sáu trăm triệu đồng). Hiện tại chị đứng tên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh quầy thuốc tây nên yêu cầu nhận nhà và đất, đồng ý giao giá trị cho anh H số tiền 800.000.000 đồng. Nếu anh H yêu cầu nhận nhà và đất, thì chị yêu cầu anh H giao giá trị 800.000.000 đồng và xin gia hạn 02 tháng để di dời chỗ mới.

Tủ thuốc của mẹ chồng mua cho là của chung. Còn chi phí đầu tư tiền mua thuốc tây (không xác định được) là tiền riêng của chị chơi hụi (tự làm chủ hụi) hốt mua thuốc là của riêng chị.

Đối với yêu cầu của anh H chia đôi 22 chỉ vàng 24k, anh H xác định đây tài sản của bên chồng cho riêng chị. Quá trình chung sống bên nhà chồng, chị bán nhiều lần hết 22 chỉ vàng 24k để chi xài. Việc bán vàng anh H biết nhưng không có ý kiến nên chị không đồng ý phân chia.

- Về nợ chung: Anh chị không có nợ chung.

Đối với khoản nợ Ngân hàng N, Chi nhánh C1 (V) số tiền 400.000.000 đồng, anh chị đứng tên vay dùm cho mẹ chồng là bà Ngô Thanh T, nợ riêng của bà T, không phải nợ chung của vợ chồng.

Tại thời điểm vợ chồng chị sống riêng, bà T có cho vợ chồng các vật dụng sinh hoạt trong gia đình, bao gồm mượn 28 món đồ (kèm theo bảng kê “Danh mục tài sản” ngày 05/10/2023), không phải mượn. Tuy nhiên, phần tài sản này đã tính trong chung toàn bộ giá trị nhà và đất trên nên chị không trả cho bà T.

Ngô Thanh T trình bày:

Về hôn nhân: Anh H yêu cầu ly hôn chị Trâm A, bà không có ý kiến.

Đối với tiền mua nhà và đất là của bà cho mượn tổng cộng 751.783.000 đồng, việc cho mượn không có biên nhận, giấy tờ và 28 món đồ vật dụng kèm theo bảng kê “Danh mục tài sản” ngày 05/10/2023, bà không yêu cầu.

Đối với khoản vay Ngân hàng N, Chi nhánh C1 (V) số tiền 400.000.000 đồng. Đây là khoản nợ chung của vợ chồng anh H và chị Trâm A. Nếu anh H và chị Trâm A ly hôn, thì bà yêu cầu anh H và chị Trâm A trả lại tiền lãi cho bà (11.783.000 đồng nằm trong khoản tiền mượn trên).

Đối với tiền vốn mau thuốc tây, chị Trâm A cho rằng tiền chơi hụi riêng của Trâm A là không đúng. Chị Trâm A làm chủ mở chưng hụi loại 3.000.000 đồng khoảng 16 tháng trước đây (khoảng tháng 6/2022 sau khi kết hôn), bà có cho tiền Trâm A đóng hụi. Vậy, tiền thuốc tây trị giá 100.000.000 đồng là tài sản chung, bà đã cung cấp hóa đơn tiền thuốc tây.

Trương Hồng C trình bày:

Trước đây, bà với bà Ngô Thanh T thỏa thuận, mỗi bên cho tiền để mua nhà và đất cho anh H và chị Trâm A ở. Từ đó, bà cho vợ chồng anh H và chị Trâm A số tiền 500.000.000 đồng, bà T cho 650.000.000 đồng, tổng cộng 1.050.000.000 đồng, còn 400.000.000 đồng bà T kêu anh H và chị Trâm A vay Ngân hàng, bà T sẽ lãnh nhận trả nợ cho Ngân hàng. Bà T và anh H cho rằng cho mượn là không đúng sự thật. Bà cho anh H và chị Trâm A cũng không yêu cầu gì số tiền này.

Đối với Ngân hàng N số tiền 400.000.000 đồng, bà có hỏi thì bà T xác định nhờ vợ chồng anh H và chị Trâm A mượn đứng vay dùm, khoản nợ này bà T nhận lãnh trả cho Ngân hàng. Bà có ghi âm lại giọng nói của bà T xác nhận và cung cấp cho Tòa án.

Ông Hồng Quốc D1 trình bày:

Ngày 02/6/2023 ông Bào Trung H và bà Đặng Thị Trâm A ký hợp đồng vay số 639-2023/HĐCV-CMA-TN với Ngân hàng TMCP N, Chi nhánh C1 (gọi tắt là Ngân hàng) để vay số tiền 400.000.000 đồng. Thời hạn vay 355 ngày. Để đảm bảo khoản vay, anh H và chị Trâm A ký hợp đồng số 639-2023/HĐTC-CMA-TN cùng ngày 02/6/2023 để thế chấp tài sản là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL 521165 diện tích 117,8m² thửa số 35, tờ bản đồ số 13 tại số A, ấp A, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C cấp vào ngày 24/5/2023 cho anh Bào Trung H và chị Đặng Thị Trâm A đứng tên. Nay anh H và chị Trâm A yêu cầu chia tài sản này để hôn thì Ngân hàng yêu cầu: Anh Bào Trung H và chị Trâm A trả nợ vay 405.090.000 đồng, trong đó nợ gốc là 400.000.000 đồng và nợ lãi 5.090.000 đồng tạm tính đến ngày 11/3/2024 và trả lãi phát sinh theo hợp đồng. Trường hợp anh H và chị Trâm A không thanh toán thì Ngân hàng có quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau đã quyết định:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Bào Trung HĐặng Thị Trâm A.

2. Về chia tài sản chung:

- Giao tài sản chung là 01 căn nhà và đất diện tích 117,8m² thửa số 35, tờ bản đồ số 13 tại số A, ấp A, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 24/5/2023 cho anh Bào Trung H và chị Đặng Thị Trâm A đứng tên; tài sản khác bao gồm tủ thuốc và các vật dụng trong nhà 27 món kèm theo bảng kê “Danh mục tài sản” ngày 05/10/2023 cho chị Đặng Thị Trâm A được tiếp tục quản lý, sử dụng.

- Chị Đặng Thị Trâm A có nghĩa vụ hoàn lại cho anh B Trung Hậu ½ giá trị tài sản nêu trên với số tiền 800.000.000 đồng; tiền đầu tư mua thuốc tây 9.572.000 đồng, tổng cộng 809.572.000 đồng (tám trăm lẽ chín triệu năm trăm bảy mươi hai nghìn đồng) và 11 chỉ vàng 24K.

3. Về nợ chung: Buộc chị Đặng Thị Trâm A phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP N số tiền 405.090.000 đồng, trong đó vốn là 400.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 11/3/2024 là 5.090.000 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng.

Trường hợp chị trâm Anh không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì buộc chị Trâm A có nghĩa vụ giao cho Ngân hàng tải sản thế chấp là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL 521165 diện tích 117,8m² thửa số 35, tờ bản đồ số 13 tại số A, ấp A, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C cấp vào ngày 24/5/2023 cho anh Bào Trung H và chị Đặng Thị Trâm A đứng tên để xử lý theo Luật thi hành án dân sự. Ngân hàng có nghĩa vụ giao lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị Trâm A sau khi thanh toán xong khoản nợ cho Ngân hàng.

Buộc anh Bào Trung H có nghĩa vụ hoàn lại cho chị Đặng Thị Trâm A ½ số nợ với số tiền 202.545.000 đồng.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 26/3/2024 chị Đặng Thị Trâm A kháng cáo, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm với lý do không đồng ý trả lại cho anh B Trung Hậu 11 chỉ vàng 24K; không đồng ý thanh toán cho Ngân hàng TMCP N số tiền 405.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của chị Đặng Thị Trâm A, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Tại phiên toà phúc thẩm chị Đặng Thị Trâm A vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo với lý do đối với số vàng chị bán chi sài cho hai vợ chồng, vấn đề này anh Bào Trung H vẫn biết. Đối với số tiền vay Ngân hàng N 400.000.000 đồng là vay dùm mẹ chồng là bà Ngô Thanh T.

[2] Xét kháng cáo của chị Đặng Thị Trâm A thấy rằng: Về số vàng cấp sơ thẩm buộc chị thanh toán cho anh Bào Trung H, chị không đồng ý cho rằng anh H biết chị bán số vàng chi sài nhưng quá trình giải quyết cũng như tại phiên toà anh H không thừa nhận và cho rằng tiền chi sài là do cha mẹ cho khi đám cưới vẫn còn 80.000.000 đồng. Chị Trâm A thừa nhận chị là người quản lý số vàng, chị Trâm A và Luật sư tranh luận cho rằng khi cưới xong hai vợ chồng chị Trâm A không có nghề nghiệp, bán vàng chi sài và chị Trâm A học nghề S, vấn đề này anh H không thừa nhận và cho rằng khi ở chung cha mẹ anh H đã lo cho đầy đủ, chị Trâm A không chứng minh được việc bán vàng dùng vào việc gì nên cấp sơ thẩm buộc chị hoàn lại cho anh B Trung Hậu là có căn cứ.

[3] Đối với số tiền vay Ngân hàng, chị Trâm A cho rằng vay dùm, bà Ngô Thị T1 thì xác định khi mua nhà vợ chồng bà T1 không đủ tiền nên mới mượn của em chồng là ông Bào Tấn L3 mua nhà cho con, thanh toán tiền xong mới làm thủ tục chuyển tên nên vợ chồng chị Trâm A vay tiền để trả lại, số tiền trả chuyển khoản cho ông Bào Tấn L3, dự định vợ chồng bà có khả năng thì cũng sẽ cho vợ chồng chị Trâm A.

Ngoài ra tại bản tự khai của chị Trâm A cũng thể hiện khi mua nhà cho chị và anh H thì bà T1 chỉ có 650.000.000 đồng tiền mặt, thiếu 400.000.000 đồng thì đề nghị chị và anh H vay và chị Trâm A cũng cung cấp nội dung ghi âm là bà T1 hứa sẽ trả số tiền này nhưng lý do chị và anh H ly hôn nên bà T1 không trả nữa (BL 168). Như vậy số tiền 400.000.000 đồng chị và anh H vay đưa cho bà T1 để thanh toán tiền mua nhà. Hiện tại nhà do anh chị đứng tên và được giải quyết chia tài sản, bà T1 không có lợi ích gì trong số tiền 400.000.000 đồng và cũng không đồng ý trả thay nên cấp sơ thẩm buộc chị và anh H phải thanh toán tiền vay ngân hàng là có căn cứ.

[4] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của chị Trâm A, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Như phân tích trên đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ được chấp nhận.

[5] Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên chị Đặng Thị Trâm A phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 đồng.

[6] Các Quyết định khác không có kháng cáo kháng nghị, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ Luật tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của chị Đặng Thị Trâm A. Giữ nguyên bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 12/3/2024 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau.

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 143, 147, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 33, 38, 39, 40, 43 của Luật hôn nhân và gia đình; Các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Về chia tài sản chung:

- Giao tài sản chung là 01 căn nhà và đất diện tích 117,8m² thửa số 35, tờ bản đồ số 13 tại số A, ấp A, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 24/5/2023 cho anh Bào Trung H và chị Đặng Thị Trâm A đứng tên; tài sản khác bao gồm tủ thuốc và các vật dụng trong nhà 27 món kèm theo bảng kê “Danh mục tài sản” ngày 05/10/2023 cho chị Đặng Thị Trâm A được tiếp tục quản lý, sử dụng.

- Chị Đặng Thị Trâm A có nghĩa vụ hoàn lại cho anh B Trung Hậu ½ giá trị tài sản nêu trên với số tiền 800.000.000 đồng; tiền đầu tư mua thuốc tây 9.572.000 đồng, tổng cộng 809.572.000 đồng (tám trăm lẽ chín triệu năm trăm bảy mươi hai nghìn đồng) và 11 chỉ vàng 24K.

Về nợ chung: Buộc chị Đặng Thị Trâm A phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP N số tiền 405.090.000 đồng, trong đó vốn là 400.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 11/3/2024 là 5.090.000 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng.

Trường hợp chị Trâm A không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì buộc chị Trâm A có nghĩa vụ giao cho Ngân hàng tải sản thế chấp là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL 521165 diện tích 117,8m² thửa số 35, tờ bản đồ số 13 tại số A, ấp A, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C cấp vào ngày 24/5/2023 cho anh Bào Trung H và chị Đặng Thị Trâm A đứng tên để xử lý theo Luật thi hành án dân sự. Ngân hàng có nghĩa vụ giao lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị Trâm A sau khi thanh toán xong khoản nợ cho Ngân hàng.

Buộc anh Bào Trung H có nghĩa vụ hoàn lại cho chị Đặng Thị Trâm A ½ số nợ với số tiền 202.545.000 đồng.

Kể từ ngày người có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng phải chịu lãi suất chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thanh toán.

Các Quyết định khác không có kháng cáo kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Anh H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, 38.505.000 đồng án phí chia tài sản chung và 10.127.000 đồng án phí có nghĩa vụ, tổng cộng 48.932.000 đồng. Ngày 19/10/2023 và ngày 20/11/2023 anh H đã nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm là 18.300.000 đồng theo biên lai thu số 0008506 và 1.603.000 đồng theo biên lai thu số 0007633 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau được đối trừ, còn phải nộp tiếp 29.029.000 đồng.

Chị Đặng Thị Trâm A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về chia tài sản chung là 38.648.000 đồng và 10.127.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có nghĩa vụ, tổng cộng 48.775.000 đồng (chưa nộp).

Án phí phúc thẩm: chị Đặng Thị Trâm A phải nộp 300.000 đồng, đã dự nộp 300.000 đồng tại biên lai thu số 0008316 ngày 26/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được chuyển thu.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân TP Cà Mau;
  • - Chi cục THADS TP Cà Mau;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Hải Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HNGĐ-PT ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn

  • Số bản án: 16/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger