TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2023/HS-ST.
Ngày: 17-11-2023.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HÒ, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Phương Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Dự và bà Trần Thị Thu Thủy
- Thư ký phiên tòa: Ông Bàn Văn Sơn –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Vì Thị Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại Nhà văn hóa bản H1, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai lưu động vụ án hình sự thụ lý số: 06/2023/TLST- ST ngày 11 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:
Giàng A P; tên gọi khác: không; sinh năm 1978; tại huyện V, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản C, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng A C và bà Vàng Thị S (Đều đã chết); bị cáo có cợ là Thào Thị D sinh năm: 1977, và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1995 đã chết, con nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền sự: Không
Tiền án:
- Ngày 15/4/1999 TAND huyện Mộc Châu áp dụng khoản 1 Điều 138, khoản 1 Điều 245, Điều 41, Điều 38 BLHS năm 1985 xử phạt Giàng A P 12 tháng tù giam về tội Hủy hoại tài sản xã hội chủ nghĩa và 09 tháng tù giam về tội Trốn khỏi nơi giam. Tổng hợp hình phạt của hai tội là 21 tháng tù. Phải bồi thường cho Xí nghiệp B là 3.051.000 đồng; Chịu an phí HSST 50.000 đồng; an phí DSST 152.550 đồng. Giàng A Pao chấp hành xong án phí ngày 16/4/2006, chấp hành xong án phạt tù ngày 31/10/2000. Tuy nhiên, Giàng A P chưa bồi thường cho Xí nghiệp 224.
- Ngày 16/6/2004 TAND huyện Mộc Châu áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999 xử phạt Giàng A P 12 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Phải bồi thường anh Thào A D1 số tiền 100.000 đồng; phải chịu án phí HSST 50.000 đồng; án phí DSST 50.000 đồng. Giàng A P đã chấp hành xong án phạt tù ngày 28/4/2005, chấp hành xong án phí HSST ngày 08/6/2007. Tuy nhiên, Giàng A P chưa thi hành khoản án phí DSST và khoản bồi thường cho anh Thào A D1.
- Ngày 24/10/2007 TAND huyện Mộc Châu áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 194, điểm d, đ khoản 2 Điều 198, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33, 50 BLHS năm 1999 xử phạt Giàng A P 8 năm 6 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; 07 năm 6 tháng tù về tội Chứa chấp việc sử dụng phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của hại tội là 16 năm tù. Phải chịu án phí HSST 50.000 đồng. Giàng A Pao chấp hành xong án phí HSST ngày 15/12/2007, chấp hành xong án phạt tù ngày 30/7/2020.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V kể từ ngày 26/4/2023 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Giàng Thị C1, sinh năm: 1999, địa chỉ: Bản C, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10hh00' ngày 26/4/2023, tổ công tác Công an huyện V làm nhiệm vụ tại bản Chiềng Đi 1, xã V tiến hành dừng xe máy BKS: 26K9- 4579 do Giàng A P điều khiểu để kiểm tra vì có biểu hiện liên quan đến chất ma túy. Giàng A P dừng xe bỏ chạy thì bị tổ công tác khống chế. Quá trình khống chế, tổ công tác phát hiện P nhả ra từ miệng 01 gói nilon màu đen, bên trong có 02 lớp nilon màu đen, trong cùng đựng viên nén màu hồng, bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY nghi là ma túy tổng hợp. Giàng A P khai nhận đó là 40 viên H phiến Pao vừa mua được của Giàng Thị C1, sinh năm 1999, trú tại: Bản C, xã V với giá 800.000 đồng, mục đích để bản thân P sử dụng. Căn cứ vào hành vi vi phạm của Giàng A P, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng, tạm giữ của P1 01 chiếc xe máy BKS: 26K9- 4579, 01 chiếc mũ bảo hiểm, 01 chiếc điện thoại di động S2 và dẫn giải Pao về trụ sở Cơ quan CSĐT Công an huyện V để điều tra, làm rõ.
Mở rộng điều tra, cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an huyện V phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ cùng chính quyền địa phương tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi đối tượng bỏ chạy và thả gói ma túy xuống đường; tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Giàng Thị C1, sinh năm 1999, trú tại: Bản C, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La, quá trình kiểm tra, khám xét có thu giữ 01 chiếc điện thoại di động của Giàng Thị C1. Tuy nhiên kết quả không phát hiện thông tin nào liên quan đến hành vi phạm tội của Giàng A P. Cơ quan CSĐT đã trả lại chiếc điện thoại trên cho Giàng Thị C1 quản lý, sử dụng.
Ngày 26/4/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ cùng Phòng K Công an tỉnh S tiến hành cân tịnh xác định khối lượng 40 viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp thu giữ của Giàng A P được tổng khối lượng là 3,65 gam. Lấy 05 viên có tổng khối lượng là 0,49 gam làm mẫu giám định ký hiệu là P bàn giao cho Phòng K Công an tỉnh S giám định chất ma túy, loại ma túy.
Tại kết luận giám định số: 907 ngày 30/4/2023 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: Mẫu giám định ký hiệu P là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,49 gam. Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ là 3,65 gam Methamphetamine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai: Giàng A P là đối tượng nghiện chất ma túy. Khoảng 09 giờ ngày 26/4/2023 khi Giàng A P đang ở nhà thì có cuộc gọi nhỡ từ số máy 0878930095 của Giàng Thị C1, sinh năm: 1996, trú tại: Bản C, xã V, huyện V nên P có gọi lại cho Công bằng số điện thoại 0867.923.xxx hỏi thăm một số chuyện gia đình. Tiếp đó P hỏi C1 “Còn hồng phiến không” thì C1 bảo còn, P hỏi mua của C1 800.000 đồng hồng phiến, C1 và P hẹn gặp nhau ở đường dân sinh của bản Chiềng Đi 2, xã V, gần nhà C1 để giao nhận tiền và ma túy. Sau đó P một mình điều khiển xe máy BKS: 26K7- 4579 của P đến đứng chờ ngoài đường cách nhà C1 khoảng 100m. Pao chờ khoảng 15 phút thì C1 một mình đi bộ ra gặp P và đưa cho P 01 gói nilon màu đen, P cầm gói hồng phiến (không kiểm đếm) và đưa cho C1 số tiền 800.000 đồng. Pao cất giấu gói hồng phiến vào miệng và điều khiển xe máy đi theo hướng ra đường Q. Khi P đang đi trên đường dân sinh thuộc bản Chiềng Đi 1, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La thì gặp tổ công tác Công an huyện V dừng xe để kiểm tra phát hiện bắt quả tang.
Cáo trạng số: 109/CT-VKS ngày 10/10/2023 của Viện kiểm sát nhân huyện V, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Giàng A P về tội: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới ảnh hưởng đến nội dung vụ án, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Giàng A P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Giàng A P từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ.
Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 3,16 gam Methamphetamine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu và vỏ gói ban đầu; 02 phong bì niêm phong bên trong đựng que Test thử ma túy của Giàng A P và Giàng Thị C1.
- Trả lại 01 chiếc điện thoại di động SAMSUNG màu đen bên trong có thẻ sim thuê bao số 0867923618, 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA loại WAVE màu đỏ trắng, BKS: BKS: 26K9- 4579 và 01 chiếc mũ bảo hiểm loại INDEX màu đen, trắng cho Giàng A P.
Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Xin được HĐXX giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về chứng cứ xác định có tội và tính chất hành vi phạm tội: Ngày 26/4/2023, Giàng A P có hành vi tàng trữ trái phép 3,65 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Mặt khác Giàng A P có 3 tiền án đều chưa được xóa án tích, bị cáo đã tái phạm chưa được xóa án tích, nay lại cố ý thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ 3,65 gam ma túy. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng định khung là tái phạm nguy hiểm. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo đã cố tình phạm tội rất nghiêm trọng, tàng trữ 3,65 gam Methamphetamine, đã xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội nhất là tội phạm về ma túy.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh bị cáo không có tài sản riêng có giá trị. Do đó, HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo là có căn cứ.
[5] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[6] Vật chứng của vụ án:
- - Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 3,16 gam Methamphetamine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu và vỏ gói ban đầu; 02 phong bì niêm phong bên trong đựng que Test thử ma túy của Giàng A P là những vật cấm lưu hành hoặc không có giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA loại WAVE màu đỏ trắng, BKS: 26K9-4579 thu giữ của Giàng A P, xác định là tài sản hợp pháp của Giàng A P. Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố đề nghị HĐXX trả lại chiếc xe máy trên cho bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo sử dụng chiếc xe máy này làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, HĐXX không chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, tuyên tịch thu chiếc xe máy trên sung ngân sách Nhà nước.
- - Đối với 01 chiếc điện thoại di động SAMSUNG màu đen bên trong có thẻ sim thuê bao số 0867923618, quá trình điều tra và tại phiên tòa không có căn cứ xác định bị cáo sử dụng chiếc điện thoại trên để phạm tội. Nên HĐXX trả lại cho bị cáo.
- - Đối với 01 chiếc mũ bảo hiểm loại INDEX màu đen, trắng là tài sản hợp pháp của Giàng A P, không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo nên HĐXX trả lại cho bị cáo.
[7] Về nguồn gốc chất ma túy: Quá trình điều tra Giàng Thị Công khai nhận ngày 26/4/2023 có nói chuyện qua điện thoại với P về công việc gia đình, không bàn bạc trao đổi mua bán ma túy như lời khai của P. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Giàng A P và Giàng Thị C1 đối chất. Kết quả đối chất P và C1 vẫn giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai duy nhất của Giàng A P, không còn chứng cứ nào khác chứng minh Tráng Thị C2 là đối tượng đã bán ma túy cho P. Do đó không đủ căn cứ để điều tra, xử lý đối với Giàng Thị C1. Là đúng quy định.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của Pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Giàng A P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Giàng A P 06 (S1) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/4/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 3,16 gam Methamphetamine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu và vỏ gói ban đầu; 02 phong bì niêm phong bên trong đựng que Test thử ma túy của Giàng A P.
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA loại WAVE màu đỏ trắng, BKS: BKS: 26K9- 4579.
- - Trả lại 01 chiếc điện thoại di động SAMSUNG màu đen bên trong có thẻ sim thuê bao số 0867923618 và 01 chiếc mũ bảo hiểm loại INDEX màu đen, trắng cho Giàng A P.
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 10/BBVC-CCTHA ngày 25/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Phương Giang |
THÀNH VIÊN HỘ ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 16/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 16/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giàng A P phạm tội TTTPCMT theo khoản 2 Điều 249
