Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VINH

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/DS-ST

Ngày: 17/6/2024

Về việc: “Tranh chấp về Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phan Kim Hoa

2. Ông Trần Quốc Đấu

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Dương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hội - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự sơ thẩm thụ lý số 177/2023/TLST-DS ngày 05/10/2023 về việc “Tranh hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-DS ngày 13/5/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 26/2024/QÐST-DS ngày 31/52024 giữa:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (viết tắt là S1); Trụ sở: 2 N, phường H, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc. Ủy quyền Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S (Công ty S2); Địa chỉ số B N, phường V, quận C, TP Hồ Chí Minh; Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Nhật Kim K - Nhân viên Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S theo giấy ủy quyền số: 2650/2024/UQ-TGĐ ngày 02/5/2024 - Vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Hoàng Thị Thanh H; Sinh năm: 1981; Nơi ĐKHKTT: khối A, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An - Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Nguyên đơn – đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có Đơn xin vắng mặt và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào đơn khởi kiện ngày 28/12/2022 và bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Nhật Kim K trình bày:

Ngày 20/10/2017, bà Hoàng Thị Thanh H có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng JCB Car Card Gold số thẻ 356481-0992 với hạn mức sử dụng là 55.000.000 (Năm mươi lăm triệu) đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân; lãi suất áp dụng là 2,6%/1 tháng. Đến ngày 09/03/2018 bà H đăng ký thêm thẻ VS PayWave Cre Platinum 436438-1338 với hạn mức sử dụng là 55.000.000 (Năm mươi lăm triệu) đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân; lãi suất áp dụng là 2,4%/1 tháng). Lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 113,528,518 (Một trăm mười ba triệu, năm trăm hai mươi tám nghìn, năm trăm mười tám) đồng. Trong đó thẻ JCB Car Card Gold số thẻ 356481-0992 là 73,212,898 đồng; thẻ VS PayWave Cre Platinum 436438-1338 là 40.315.620 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 82.950.000 đồng (T mươi hai triệu, chín trăn năm mươi ngìn đồng) Trong đó thẻ JCB Car Card Gold số thẻ 356481-0992 là 59.700.000 đồng; thẻ VS PayWave Cre Platinum 436438-1338 là 23.250.000 đồng. Thứ tự thanh toán áp dụng theo Điều 20 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán quy định tại Điều 02 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên N đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ đối với bà H và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Cụ thể thẻ JCB Car Card Gold số thẻ 356481-0992 là ngày 01/9/2019; thẻ VS PayWave Cre Platinum 436438-1338 là ngày 16/9/2019.

Tạm tính đến ngày 17/6/2024, bà H còn nợ Ngân hàng số tiền 194.271.842 đồng. Trong đó: nợ gốc 61.162.757 đồng; lãi quá hạn 133.109.085 đồng) cụ thể như sau:

Đối với thẻ JCB Car Card Gold số thẻ 356481-0992 bà H còn nợ 95.352.924 đồng. Trong đó nợ gốc 29.092.284 đồng; lãi quá hạn 66.260.640 đồng (Lãi suất quá hạn bằng 2,6%*150% = 3,9 %/1 tháng = 29,092,284*3,9/30 =37,820 đồng/1 ngày *1.752 ngày = 66.260.640 đồng.

Đối với thẻ VS PayWave Cre Platinum 436438-1338 kể từ ngày 16/9/2019 là 32.074.473 đồng. Tạm tính đến ngày 17/6/2024 là 98.918.918 đồng. Trong đó gốc là 32.070.473 đồng; lãi quá hạn 66.848.445 đồng (Lãi suất quá hạn bằng 2,4%*150% = 3,6 %/1 tháng = 32.070.473 đồng *3,6/30 = 38.485 đồng/1 ngày *1.737 ngày = 66.848.445 đồng).

Sau khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng đã rất nhiều lần gửi thông báo và làm việc nhưng khách hàng không hợp tác. Để bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của ngân hàng. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Hoàng Thị Thanh H phải trả nợ cho ngân hàng đối với 2 khoản vay trên tạm tính đến ngày 17/6/2024 là 194.271.842 đồng. Trong đó: nợ gốc 61.162.757 đồng; lãi quá hạn 133.109.085 đồng). Đồng thời, yêu cầu bà Hoàng Thị Thanh H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 18/6/2024 cho đến khi thực tế thanh toán hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Bị đơn: Bà Hoàng Thị Thanh H vắng mặt trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa không rõ lý do dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ 2 lần nên Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc:

  • - Tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 48 BLTTDS; việc thụ lý và giải quyết vụ án đúng quy định tại Điều 26, Điều 35 BLTTDS; xác định đúng tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử chưa đảm bảo đúng quy định. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự
  • - Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227; Điều 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 91, 94, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 463, 466, 357, 468 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Hoàng Thị Thanh H phải trả tiền gốc, tiền lãi phát sinh tạm tính đến ngày 17/6/2024 là 194.271.842 đồng. Trong đó: nợ gốc 61.162.757 đồng; lãi quá hạn 133.109.085 đồng) và buộc bà Hoàng Thị Thanh H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 18/6/2024 cho đến khi thực tế thanh toán hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Về án phí: Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng. Bà Hoàng Thị Thanh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền: Ngày 28 tháng 12 năm 2022, Ngân hàng TMCP S có đơn khởi kiện gửi đến Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu bà Hoàng Thị Thanh H trả nợ theo các Hợp đồng thẻ tín dụng đã được ký kết giữa hai bên. Sau khi thụ lý Tòa án nhân dân quận Tân Bình tiến hành xác minh thì tại thời điểm thụ lý giải quyết vụ án bà Hoàng Thị Thanh H thực tế không cư trú tại địa số 121, B, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo Hợp đồng bà Hoàng Thị Thanh H có chỗ ở tại địa chỉ số A, B, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh và hộ khẩu thường trú tại: khối A, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An do đó Tòa án nhân dân quận Tân Bình, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An theo thẩm quyền.

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án nhân dân thành phố Vinh đã tiến hành xác minh thì hiện tại bà H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khối A, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An và vẫn thỉnh thoảng có về. Bà H thay đổi nơi cứ trú nhưng không thông báo cho nguyên đơn và chính quyền địa phương về việc chuyển địa chỉ sinh sống và cư trú của mình nên căn cứ theo điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì trường hợp này được coi là cố tình giấu địa chỉ, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung, nên Tòa án nhân dân thành phố Vinh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[1.2]. Về việc vắng mặt các đương sự: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn có đơn xin vắng mặt và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ, niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án đối với bị đơn là bà Hoàng Thị Thanh H theo đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bà H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2.] Về nội dung vụ án:

Hợp đồng vay tài sản giữa Ngân hàng TMCP S và bà Hoàng Thị Thanh H được thể hiện dưới hình thức căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng cụ thể: Ngày 20/10/2017, bà Hoàng Thị Thanh H có ký với Ngân hàng Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng JCB Car Card Gold số thẻ 356481-0992 hạn mức 55.000.000 đồng lãi suất là 2,6%/1 tháng và ngày 09/03/2018 ký thẻ VS PayWave Cre Platinum 436438-1338 hạn mức 55.000.000 đồng, lãi suất 2.4%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Như vậy, về mặt hình thức của hợp đồng được hai bên xác lập theo mẫu chung do Ngân hàng quy định, phù hợp với quy định tại Điều 405 Bộ luật Dân sự. Hội đồng xét xử thấy rằng về hình thức cũng như nội dung của các hợp đồng vay là hoàn toàn tự nguyện và thỏa thuận không trái với các quy định tại Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 463 Bộ luật Dân sự nên các Hợp đồng vay tài sản này có hiệu lực pháp lý với các bên đã ký kết.

Quá trình thực hiện Hợp đồng bà H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 113.528.518 đồng và thanh toán cho ngân hàng số tiền 82.950.000 đồng. Trong đó T1 tín dụng JCB Car Card Gold số thẻ 356481-0992 sử dụng số tiền là 73.212.898 đồng, đã thanh toán 57.700.000 đồng. Thẻ VS PayWave Cre Platinum 436438-1338 sử dụng số tiền là 40.315.620 đồng, đã thanh toán 23.250.000 đồng.

Như vậy, Ngân hàng đã thực hiện đúng nghĩa vụ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, bà H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ do các bên thỏa thuận. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa hôm nay, bà H không có mặt và cũng không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì khác thể hiện về việc đã trả tiền. Căn cứ vào đơn khởi kiện, các bản tự khai của đại diện ngân hàng trong quá trình giải quyết vụ án hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ do ngân hàng cung cấp. Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại điểm 2, 18, 19, 22 và điểm 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng có quy định trách nhiệm thanh toán, thời hạn thanh toán và số tiền thanh toán, cách tính lãi và vi phạm của chủ thẻ...“Nếu chủ thẻ không thanh toán toàn bộ số tiền đến hạn đầy đủ đúng hạn vào trước vào hoặc trước ngày đến hạn, chủ thẻ phải thanh toán lãi cho Đơn vị phát hành thẻ đối với tất cả các khoản nợ được thể hiện trong thông báo giao dịch hiện tại và bất kỳ khoản nợ nào phát sinh sau đó” .... “Áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% lãi suất được công bố áp dụng tại thời điêm hiện tại”...

Do đó, Ngân hàng yêu cầu bà H thanh toán nợ gốc và lãi của các hợp đã ký tính đến ngày 17/6/2024 là 194.271.842 đồng (trong đó: nợ gốc 61.162.757 đồng; lãi quá hạn 133.109.085 đồng). Cụ thể: Đối với thẻ JCB Car Card Gold số thẻ 356481-0992 bà H còn nợ 95.352.924 đồng. Trong đó nợ gốc 29.092.284 đồng; lãi quá hạn 66.260.640 đồng. Đối với thẻ VS PayWave Cre Platinum 436438-1338 là 98.918.918 đồng. Trong đó gốc là 32.070.473 đồng; lãi quá hạn 66.848.445 đồng và yêu cầu bà H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 18/6/2024 cho đến khi thực tế thanh toán hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 466 Bộ luật Dân sự nên có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bà Hoàng Thị Thanh H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền đã nộp tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 357, Điều 405 và Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 94, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng TMCP S.

Buộc bà Hoàng Thị Thanh H phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tính đến ngày 17/6/2024 là 194.271.842 đồng (Một trăm chín mươi tư triệu, hai trăm bảy mươi mốt nghìn, tám trăm bốn mươi hai đồng). Trong đó: nợ gốc 61.162.757 đồng (sáu mươi mốt triệu, một trăm sáu mươi hai nghìn, bảy trăm năm mươi bảy đồng); lãi quá hạn 133.109.085 đồng (Một trăm ba mươi ba triệu, một trăm lẻ chín nghìn, không trăm tám mươi lăm đồng).

Cụ thể:

- Đối với thẻ JCB Car Card Gold số thẻ 356481-0992 bà H còn nợ 95.352.924 đồng. Trong đó nợ gốc 29.092.284 đồng; lãi quá hạn 66.260.640 đồng.

- Đối với thẻ VS PayWave Cre Platinum 436438-1338 là 98.918.918 đồng. Trong đó gốc là 32.070.473 đồng; lãi quá hạn 66.848.445 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 18/6/2024) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo Quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất Ngân hàng cho vay.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

2. Về án phí: Bà Hoàng Thị Thanh H phải chịu 9.713.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền 3.700.775 đồng (Ba triệu, bảy trăm nghìn, bảy trăm bảy mươi lăm đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh theo biên lai thu tiền số 000884 ngày 01/3/2023.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng có trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Nghệ An;

- VKSND thành phố Vinh;

- Chi cục THADS thành phố Vinh;

- Chi cục THADS Q. Tân Bình, TP.Hồ Chí Minh

- Các đương sự;

- Lưu HS

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thúy

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/DS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 16/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân Hàng S khởi kiện yêu cầu bà Hoàng Thi Thanh H trả nợ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger