Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BA BỂ

TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HS-ST

Ngày: 17/5/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nga

Ông Dương Xuân Tựu

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ưu – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hòa – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tổ chức phiên tòa trực tuyến diễn ra tại các điểm cầu gồm: Điểm cầu trung tâm tại Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn V (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam

Sinh ngày 07 tháng 7 năm 1992;

Nơi sinh: Huyện B, tỉnh Bắc Kạn;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Hoàng Văn O - sinh năm 1964 và bà Lý Thị C - sinh năm 1966;

Có vợ là: Ma Thị N - sinh năm 1993 (hiện đang xuất khẩu lao động tại Đài Loan) và 01 con sinh năm 2013;

Tiền án: Không;

Tiền sự: 02 tiền sự - Ngày 23/11/2023 bị Chủ tịch UBND xã Đ xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 732/QĐ-XPHC; Ngày 30/11/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 17/QĐ-TA.

Nhân thân:

+ Ngày 01/11/2021 bị Công an xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản”, theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 14/QĐ-XPHC;

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 05/02/2024 cho đến nay.

Có mặt tại điểm cầu thành phần.

* Bị hại:

Bà Đồng Thị L - sinh năm 1966; Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt tại điểm cầu trung tâm.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Đặng Văn Ú, sinh năm 1963; Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt - có đơn xin xét xử vắng mặt

- Anh Nông Văn C1, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt - Có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Ông Triệu Việt D - Trưởng Nhà tạm giữ Công an huyện B;

- Ông Nguyễn Việt H, ông Lưu Văn G - Cán bộ/Chiến sĩ nghĩa vụ Đội THAHS &HTTP Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn.

Có mặt tại điểm cầu thành phần.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bà Đồng Thị L có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Ngày 27/12/2023, khi bà L từ tỉnh Thái Nguyên trở về nhà tại thôn N thì phát hiện đồ đạc trong nhà bị xáo trộn, lục lọi, có dấu vết của việc đột nhập trái phép. Qua kiểm tra thấy mất 01 chiếc xe đạp và 01 vỏ bình gas nên bà L đã trình báo với cơ quan Công an.

Qua xác minh, cơ quan điều tra Công an huyện B xác định Hoàng Văn V - sinh năm 1992; địa chỉ: thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn đã thực hiện hành vi trộm cắp số tài sản trên của bà Đồng Thị L.

Tại cơ quan điều tra, Hoàng Văn V khai nhận: Vào khoảng đầu tháng 12/2023 (không nhớ ngày cụ thể) khi Hoàng Văn V một mình đi bộ từ cổng Trung tâm Y tế huyện B để về nhà ở thôn P, xã Đ, huyện B đi qua địa phận thôn N, xã Đ, huyện B thì quan sát thấy nhà bà Đồng Thị L khóa cửa, không có ai ở nhà nên V đã đi ra phía sau nhà, đến cửa bếp rồi đưa tay qua khe hở vào bên trong, thấy chìa vẫn cắm ở ổ khóa, V mở chìa khóa đẩy cửa và đi vào trong nhà thì thấy một chiếc vỏ bình gas. V đi tiếp vào trong nhà chính nhưng không thấy đồ gì đáng giá nên quay lại bếp dùng hai tay nhấc vỏ bình gas ra ngoài theo lối cũ. V nhìn thấy chiếc xe đạp dựng ngay vách tường nhà nên đã nhấc chiếc xe đạp ra và đặt bình gas lên giá chở hàng phía sau của xe đạp sau đó đạp xe chở bình gas đi về nhà rồi cất giấu tại gian phòng khách nhà mình.

Đến ngày 28/12/2023, Hoàng Văn V gọi điện thoại nhờ Nông Văn C1 - sinh năm 1992, địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn đến chở giúp chiếc xe đạp và bình gas mang đi bán, tuy nhiên V không nói cho C1 biết đó là tài sản do trộm cắp mà có. Sau khi nhận được điện thoại của V thì Nông Văn C1 đã điều khiển xe máy nhãn hiệu HONDA Dream màu đen (không gắn biển kiểm soát) đến nhà V rồi cùng nhau mang số tài sản đi bán. Khi đến nhà ông Đặng Văn Ứ - sinh năm 1963, địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn V bán chiếc xe đạp cho ông Ứ được số tiền 88.000đ (tám mươi tám nghìn đồng), còn chiếc bình gas ông Ứ không mua nên C1 tiếp tục chở V cùng bình gas đi bán thì bị Công an xã Đ, huyện B phát hiện lập biên bản và đưa người cùng tang vật về trụ sở để xác minh làm rõ.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu Wahama, màu sơn đỏ, xe cũ đã qua sử dụng; 01 vỏ bình gas màu hồng, nhãn hiệu PetroVietnamgas cũ đã qua sử dụng; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Dream (không gắn biển kiểm soát), màu đen, xe cũ đã qua sử dụng.

Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐG ngày 15/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B kết luận: 01 vỏ bình gas màu hồng, nhãn hiệu Petro VietNamgas, cũ đã qua sử dụng, mua cuối năm 2021, tại thời điểm tháng 12/2023 có giá trị 210.000đ (hai trăm mười nghìn đồng); 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu Wahama, màu sơn đỏ, xe cũ đã qua sử dụng, mua lại vào đầu năm 2020, tại thời điểm tháng 12/2023 có giá trị 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Tổng cộng 510.000đ (năm trăm mười nghìn đồng).

Quá trình điều tra còn xác định được bị cáo Hoàng Văn V là lao động tự do, không có công việc, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng và không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo; bản thân và gia đình không thuộc diện chính sách, người có công với cách mạng.

Tại cáo trạng số 16/CT-VKSBB ngày 02/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố Hoàng Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173/BLHS 2015.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000đ đến dưới 50.000.000đ hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt bi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

* Tại phiên tòa:

- Người bị hại Đồng Thị L đề nghị được lấy lại số tài sản đã bị Hoàng Văn V trộm cắp bao gồm 01 vỏ bình gas màu hồng, nhãn hiệu PetroVietNamgas cũ đã qua sử dụng; 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu Wahama, màu sơn đỏ, xe cũ đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đối với các vấn đề khác trong vụ án đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn Ứ và anh Nông Văn C1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt: Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã cung cấp đầy đủ lời khai và thông tin liên quan đến vụ án theo quy định.

+ Đối với số tiền ông Đặng Văn Ứ đã bỏ ra để mua chiếc xe đạp là 88.000đ (tám mươi tám nghìn đồng), ông Ứ không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền trên cho ông Ứ.

+ Đối với chiếc xe máy HONDA Dream (không gắn biển kiểm soát), màu đen, xe cũ đã qua sử dụng của anh Nông Văn C1, anh C1 đề nghị được lấy lại chiếc xe do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu giải quyết trách nhiệm bồi thường dân sự đối với bị cáo.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn duy trì quyền công tố tại phiên tòa:

+ Tại bản cáo trạng công bố tại phiên tòa: Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể bổ sung tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51/BLHS đối với bị cáo do xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

+ Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hoàng Văn V về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo Hoàng Văn V và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết:

+ Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn V từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+ Về trách nhiệm dân sự: Không đề nghị xem xét giải quyết.

+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47/BLHS và Điều 106/BLTTH;

Trả lại cho bị hại bà Đồng Thị L 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu Wahama, màu sơn đỏ, xe cũ đã qua sử dụng; 01 vỏ bình ga màu hồng, nhãn hiệu PetroVietnamgas cũ đã qua sử dụng;

Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nông Văn C1 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Dream (không gắn biển kiểm soát), màu đen, xe cũ đã qua sử dụng.

+ Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

- Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhất trí với nội dung cáo trạng số 16/CT-VKSBB ngày 02/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể và bản luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, không tự bào chữa, không tranh luận. Bị cáo và người bị hại nhất trí với nội dung được Đại diện Viện Kiểm sát bổ sung tại phiên tòa về việc áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51/BLHS đối với bị cáo. Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức án thấp nhất cho bị cáo để bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm trở về tái hòa nhập gia đình và cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, do bị cáo cung cấp: Xét thấy đảm bảo về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên họ đã có đầy đủ lời khai có trong hồ sơ vụ án và có đơn xin xét xử vắng mặt theo quy định. Việc vắng mặt của họ tại phiên tòa không làm ảnh hưởng hoặc gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ vào Điều 292/BLTTHS Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng đầu tháng 12/2023 Hoàng Văn V đã đột nhập trái phép vào nhà ở của bà Đồng Thị L tại thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản gồm 01 chiếc xe đạp trị giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và 01 vỏ bình gas trị giá 210.000đ (hai trăm mười nghìn đồng) của bà L. Tuy giá trị tài sản trộm cắp chưa đến 2.000.000đ (hai triệu đồng) nhưng trước đó, ngày 23/11/2023 Hoàng Văn V đã bị Chủ tịch UBND xã Đ xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 732/QĐ-XPHC, bị cáo chưa thi hành, cũng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Do đó, hành vi phạm tội lần này của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173/BLHS. Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, xâm phạm quyền sở hữu đối với tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo là người đủ tuổi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đầy đủ nhận thức và không bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi của mình, bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên vẫn cố ý thực hiện.

Như vậy có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử bị cáo Hoàng Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173/BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Tội phạm Hoàng Văn V thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn, tuy nhiên cũng gây ảnh hưởng xấu đến việc đảm bảo an ninh trật tự cũng như việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước tại địa phương, cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

Bị cáo có 02 tiền sự: Ngày 23/11/2023 bị Chủ tịch UBND xã Đ, huyện B xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 732/QĐ-XPHC; Ngày 30/11/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 17/QĐ-TA, thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 16 (mười sáu) tháng. Chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt, xử lý vi phạm hành chính. Do đó, xác định bị cáo có 02 tiền sự.

Về nhân thân: Ngày 01/11/2021 bị Công an xã C, huyện B xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 14/QĐ-XPHC. Đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Trong quá trình điều tra vụ án này bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, tuy nhiên trong thời gian tại ngoại bị cáo lại vi phạm nghĩa vụ cam kết của người được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, tiếp tục thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” nên đã bị cơ quan tiến hành tố tụng bắt và tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Hành vi vi phạm của bị cáo đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo không nghiêm, coi thường pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại bản cáo trạng công bố tại phiên tòa, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể bổ sung tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51/BLHS đối với bị cáo do xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Xét thấy việc bổ sung tình tiết giảm nhẹ của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là đúng quy định của pháp luật, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa; không làm xấu đi tình trạng của bị cáo; không ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cần được chấp nhận; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS là phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tội phạm thực hiện gây thiệt hại không lớn, thành khẩn khai báo và được bị hại đề nghị xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt:

Trên cơ sở quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về hình phạt chính: Xét thấy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với thực tiễn xét xử tại địa phương để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173/BLHS quy định về hình phạt bổ sung đối với người phạm tội, tuy nhiên xét hoàn cảnh bị cáo là lao động tự do, không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng gì có giá trị, việc áp dụng hình phạt bổ sung là không khả thi, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự

Bị hại bà Đồng Thị L đề nghị lấy lại 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu Wahama, màu sơn đỏ, xe cũ đã qua sử dụng; 01 vỏ bình ga màu hồng, nhãn hiệu PetroVietnamgas cũ đã qua sử dụng. Không đề nghị xem xét trách nhiệm bồi thường dân sự đối với bị cáo.

Tại giai đoạn điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn Ứ không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã mua xe đạp là 88.000đ (tám mươi tám nghìn đồng) và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm gì; Anh Nông Văn C1 đề nghị trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Dream (không gắn biển kiểm soát), màu đen, xe cũ đã qua sử dụng do không liên quan đến hành vi phạm tội và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm gì.

Do đó, HĐXX không xem xét, giải quyết về trách nhiệm dân sự trong vụ án này.

[7] Về vật chứng:

Gồm có:

- 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu Wahama, màu sơn đỏ, xe cũ đã qua sử dụng; 01 vỏ bình gas màu hồng, nhãn hiệu Petro VietNamgas, cũ đã qua sử dụng. Qua xác minh làm rõ xác định được là tài sản của bị hại bà Đồng Thị L nên được trả lại cho bà Đồng Thị L.

- 01 xe máy nhãn hiệu HONDA Dream (không gắn biển kiểm soát) màu đen, xe cũ đã qua sử dụng là phương tiện phạm tội: Quá trình giải quyết xác định chủ sở hữu là Nông Văn C1 - sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Ngày 28/12/2023 khi bị cáo Hoàng Văn V gọi điện nhờ Nông Văn C1 điều khiển xe chở bị cáo đi tiêu thụ tài sản trộm cắp thì anh C1 không biết đó là tài sản do phạm tội mà có, không được bàn bạc, thỏa thuận trước với bị cáo, không được hứa hẹn chia tiền, lợi nhuận và thực tế cũng không được chia tiền, lợi nhuận do tiêu thụ tài sản phạm tội mà có. Do đó, xác định chiếc xe máy không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho anh Nông Văn C1.

[8] Về vấn đề khác:

Đối với ông Đặng Văn Ú: Quá trình điều tra xác định được ông Ứ không biết chiếc xe đạp V mang đến bán là đồ trộm cắp, do đó không có cơ sở để xử lý về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, xét thấy là phù hợp.

Đối với anh Nông Văn C1: Được bị cáo gọi điện nhờ chở đồ đi bán, tuy nhiên không biết là tài sản do trộm cắp mà có, không được bàn bạc, thỏa thuận trước, không được hứa chia lợi nhuận và thực tế cũng không được chia lợi nhuận từ việc bán tài sản trộm cắp nên không có cơ sở xử lý về hành vi đồng phạm, xét thấy là phù hợp.

Đối với chiếc điện thoại bị cáo Hoàng Văn V dùng để liên lạc với Nông Văn C1 để nhờ C1 chở đi bán đồ trộm cắp vào ngày 28/12/2023: Sau khi gọi cho C1 xong, V đã bán cho một người không quen biết, do đó không thu giữ lại được. Hội đồng xét xử không xem xét xử lý đối với chiếc điện thoại này là có căn cứ.

[9] Về quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân:

Xét thấy quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, cần được chấp nhận.

[10] Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điều 47, Điều 50, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn V 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 05/02/2024.

3. Về vật chứng:

Trả lại 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu Wahama, màu sơn đỏ, xe cũ đã qua sử dụng; 01 vỏ bình ga màu hồng, nhãn hiệu PetroVietnamgas cũ đã qua sử dụng cho bị hại bà Đồng Thị L - sinh năm 1966; Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.

Trả lại 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Dream (không gắn biển kiểm soát), màu đen, xe cũ đã qua sử dụng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nông Văn C1 - sinh năm 1992, địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận ngày 05/4/2024 giữa Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn với Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn)

4. Về án phí:

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Kạn;
  • - VKSND tỉnh Bắc Kạn;
  • - VKSND huyện Ba Bể;
  • - Công an huyện Ba Bể;
  • - Chi cục THADS huyện Ba Bể;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Kạn (Khi có HLPL);
  • - THAHS;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - NCQLNVLQ;
  • - Lưu HSVA; Văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thùy Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 16/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng đầu tháng 12/2023 Hoàng Văn Vũ đã đột nhập trái phép vào nhà ở của bà Đồng Thị Lý tại thôn Nà Mô, xã Địa Linh, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản gồm 01 chiếc xe đạp trị giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và 01 vỏ bình gas trị giá 210.000đ (hai trăm mười nghìn đồng) của bà Lý. Tuy giá trị tài sản trộm cắp chưa đến 2.000.000đ (hai triệu đồng) nhưng trước đó, ngày 23/11/2023 Hoàng Văn Vũ đã bị Chủ tịch UBND xã Địa Linh xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 732/QĐ-XPHC, bị cáo chưa thi hành, cũng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Do đó, hành vi phạm tội lần này của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173/BLHS. Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger