TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH ————— | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————— |
Bản án số:16/2024/HS-ST Ngày: 17 - 4 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Vũ Phương Nhung;
Ông Nguyễn Ngọc Giao.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Lê Huân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Thị C, sinh năm 1973, tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm M, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Kinh Doanh; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Trần Thị H (đều đã chết); có chồng là Cao Văn T1 (đã ly hôn); có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân ngày 17-6-2011, bị Toà án nhân dân huyện Giao thuỷ xử phạt 24 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19 tháng 01 năm 2024 đến ngày 23 tháng 01 năm 2024; hiện tại ngoại tại địa phương, chấp hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; “có mặt”.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị C1, sinh năm 1980; địa chỉ: Xóm E, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 18 tháng 01 năm 2024, Lê Văn T2 và Vũ Đức P cùng Nguyễn Văn H1 điều khiển xe máy đến nhà nghỉ N ở xóm M, xã G, huyện G do Trần Thị C làm quản lý mục đích để mua dâm. Khi gặp C, T2 đặt vấn đề với C gọi cho ba gái bán dâm, C đồng ý rồi gọi điện cho Lê Thị C1 (là gái bán dâm đã quen biết với C từ trước). Khi C1 đến, C sắp xếp, bố trí cho H1 và C1 vào phòng số 2 trên tầng 2 của nhà nghỉ N để mua bán dâm với nhau. Trong khi T2 và P ngồi chờ C gọi gái bán dâm đến thì T2 trả cho C 1.000.000 đồng trong đó 900.000 đồng là tiền mua dâm của T2, H1, P và 100.000 đồng là tiền nước uống. Đến 18 giờ 35 cùng ngày, khi H1 và C1 đang mua bán dâm với nhau tại nhà nghỉ N thì bị tổ tuần tra Công an huyện G phát hiện bắt quả tang, thu giữ của Trần Thị C số tiền 1.000.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105; thu giữ của Lê Thị C1 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6 Plus, thu giữ của Nguyễn Văn H1 01 bao cao su nhãn hiệu COMDOM HUALEI.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nhà nghỉ N, Trần Thị C tự giác giao nộp: 07 bao cao su, nhãn hiệu CONDOM HUALEI chưa qua sử dụng, thu giữ tại ngăn tủ trong phòng số 2, tầng 2 của nhà nghỉ 02 bao cao su, nhãn hiệu CONDOM HUALEI chưa qua sử dụng; thu giữ tại tủ kê gian phòng khách số tiền 2.000.000 đồng và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A15.
Cáo trạng số 18/CT-VKS-GT ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Trần Thị C về tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 327, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Trần Thị C phạm tội “Chứa mại dâm”; xử phạt bị cáo Trần Thị C từ 18 đến 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 tháng đến 42 tháng; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung. Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 900.000 đồng và 02 chiếc điện thoại di động; tịch thu cho tiêu huỷ 01 bao cao su nhãn hiệu CONDOM HUALEI chưa qua sử dụng.
Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là phạm tội, không bào chữa, tranh luận gì; trong lời nói sau cùng, bị cáo tỏ rõ sự ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, với lời khai người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 35 phút ngày 18 tháng 01 năm 2024, tại nhà nghỉ N thuộc xóm M, xã G, huyện G do Trần Thị C trực tiếp quản lý, điều hành kinh doanh, C đã gọi điện thoại cho Lê Thị C2 và sắp xếp, bố trí cho C1 bán dâm cho Nguyễn Văn H1 tại phòng số 2 trên tầng 2 nhà nghỉ N để thu lợi số tiền 900.000 đồng, thì bị tổ tuần tra Công an huyện G phát hiện bắt quả tang.
[3] Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến đạo đức, thuần phong, mỹ tục, đến đời sống văn hóa, trật tự trị an xã hội. Hành vi này bị xã hội lên án mạnh mẽ và cần thiết phải được loại trừ.
[4] Từ các căn cứ trên, đủ cơ sở xác định bị cáo Trần Thị C phạm tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định là phù hợp và đúng quy định pháp luật.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5.1] Đối với bị cáo Trần Thị C: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có đơn trình bày hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, bản thân mắc bệnh tiểu đường được chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo C, hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 327 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có hướng tự cải tạo nên xét thấy chưa cần thiết buộc bị cáo phải đi tập trung cải tạo mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương (Theo đề xuất của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa) cũng đảm bảo yếu tố giáo dục, phòng ngừa.
[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ:
- Đối với số tiền 3.000.000 đồng, 03 chiếc điện thoại di động các loại, 10 bao cao su nhãn hiệu CONDOM HUALEI chưa qua sử dụng đã thu giữ của C và C1, quá trình điều tra xác định số tiền 2.100.000 đồng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15 và 09 bao cao su chưa qua sử dụng là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo là phù hợp
- Đối với số tiền 900.000 đồng là tiền mua bán dâm mà có nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước. 02 chiếc điện thoại di động trong đó chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 bên trong nắp 01 sim thuê bao 0355971147 thu giữ của Trần Thị C và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6 Plus bên trong nắp 01 sim thuê bao 0968598589 thu giữ của Lê Thị C1 đây là phương tiện liên lạc thực hiện tội phạm cần tịch thu hoá giá sung ngân sách Nhà nước; 01 bao cao su nhãn hiệu CONDOM HUALEI không còn giá trị nên tịch thu cho tiêu huỷ.
[9] Đối với Nguyễn Văn H1, Lê Thị C1 đã có hành vi mua bán dâm Công an huyện G đã xử phạt hành chính. Đối với Lê Văn T2 và Vũ Đức P có hành vi đến nhà nghỉ N mục đích để mua dâm, tuy nhiên T2 và P chưa mua dâm được thì bị lực Công an phát hiện nên không đặt ra vấn đề xử lý đối với T2, P là phù hợp.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; tuyên bố bị cáo Trần Thị C phạm tội “Chứa mại dâm”; xử phạt bị cáo Trần Thị C 20 (Hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 40 tháng tính từ ngày tuyên án (Bị cáo đã bị bắt tạm giữ từ ngày 19 tháng 01 năm 2024 đến ngày 23 tháng 01 năm 2024).
Giao bị cáo Trần Thị C cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 900.000 đồng;
- - Tịch thu hoá giá sung ngân sách Nhà nước 02 chiếc điện thoại di động trong đó 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 bên trong nắp 01 sim thuê bao 0355971147 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6 Plus bên trong nắp 01 sim thuê bao 0968598589;
- - Tịch thu 01 bao cao su nhãn hiệu CONDOM HUALEI cho tiêu huỷ.
(Chi tiết theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 36 và biên lai thu tiền số: 0003156 lập cùng ngày 20 tháng 3 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Thị C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Trần Thị C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; chị Lê Thị C1 vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Lâm |
Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự (tội chứa mại dâm)
- Số bản án: 16/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Chứa mại dâm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; tuyên bố bị cáo Trần Thị C phạm tội “Chứa mại dâm”; xử phạt bị cáo Trần Thị C 20 (Hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 40 tháng tính từ ngày tuyên án (Bị cáo đã bị bắt tạm giữ từ ngày 19 tháng 01 năm 2024 đến ngày 23 tháng 01 năm 2024)
