|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2024/HNGĐ-ST
Ngày 16/8/2024
V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”
NHÂN DÂN
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thơm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Đỗ .
Ông Hà Quốc Tuấn.
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thúy Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tham gia phiên tòa: bà Bùi Thị Thúy Hằng- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ xét xử công khai vụ án thụ lý số 39/2024/TLST - HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024.Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:39/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 5 tháng 7 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 39/2024/QĐST - HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1995
Địa chỉ: Khu E, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1990
Địa chỉ: Khu D, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
(Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh G vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai tại Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân:
Chị và anh Nguyễn Văn G có đăng ký kết hôn ngày 7/12/2016 tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Hai bên kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh G chơi bời nợ nần tình cảm vợ chồng rạn nứt không thể hàn gắn. Hiện nay chị H cùng con chung đã về nhà bố mẹ đẻ ở khu E, xã H ở từ nhiều năm nay, hai vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng thật sự không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh G.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung:
Chị H xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Nhật M sinh ngày 16/11/2017 . Hiện nay con chung đang ở với chị H. Khi ly hôn, chị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và tự nguyện không yêu cầu anh G đóng góp tiền nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp gia đình:
Chị H xác định chị và anh G không có tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp gia đình nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn G trong quá trình giải quyết Tòa án đã tiến hành các trình tự, thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Tòa án đã báo gọi anh G đến Tòa án làm việc nhiều lần nhưng anh G do làm ăn xa và cũng cố tình trốn tránh không đến Tòa án làm việc.
Tại phiên tòa Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại các Điều 195, 196, 209, 210 và Điều 211của Bộ luật tố tụng dân sự. Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70,71, 72 và Điều 234 của Bộ luật tố tụng dân, bị đơn chưa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- - Căn cứ điều 51, điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật HNGĐ năm 2014
- - Căn cứ khoản 4 điều 147 BLTTDS, điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.
1.Về quan hệ hôn nhân:Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn G.
2.Về con chung:Giao cháu Nguyễn Hoàng Nhật M sinh ngày 16/11/2017 cho chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh G không phải đóng góp tiền nuôi con chung cùng chị H, do chị H không yêu cầu.
3. Về vấn đề tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp gia đình: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về trình tự thủ tục tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn giữa chị và anh Nguyễn Văn G là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Bị đơn có nơi cư trú tại khu D, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Tam Nông thụ lý và xét xử là đúng theo quy định của pháp luật.
- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho anh G nhưng anh G không đến Tòa án làm việc, Tòa án đã làm việc với bà Nguyễn Thị D là mẹ đẻ anh G, xác nhận anh G đã biết việc chị H xin ly hôn với anh G, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Anh G đã được Tòa án tống đạt quyết định xét xử hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Như vậy, là anh G cố tình không hợp tác, việc anh G cố tình trốn tránh không đến Tòa có nghĩa là anh G từ chối quyền được trình bày tại tòa và không thực hiện nghĩa vụ của người công dân. Căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H bà anh G là phù hợp.
Về nội dung:
[1] Xét về mối quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn G là hôn nhân hợp pháp, hai bên kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau tại H,T, Phú Thọ. Trong quá trình chung sống thì đến năm 2019, hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do anh Nguyễn Văn G sa vào chơi bời nợ nần không quan tâm đến vợ con, chị H chán nản nên đã hai con chung về nhà bố mẹ đẻ từ năm 2019 đến nay không quay về nhà chồng nữa.
Qua xác minh tại chính quyền địa phương chị H và anh G có xảy ra mâu thuẫn do anh G chơi bời, nợ nần, tình cảm vợ chồng ngày một xa cách. Hiện chị H và anh G đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Hiện nay anh G đi làm ăn xa,không biết địa chỉ cụ thể nhưng thỉnh thoảng vẫn về thăm mẹ đẻ ở xã H, T.
Xét thấy cuộc sống chung của chị H và anh G không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần xử cho chị H được ly hôn với anh G là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2] Về con chung: Chị H và anh G có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Nhật M, sinh ngày 16/11/2017.Hiện nay i con chung đang ở với chị H.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Văn G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án. Về phía chị H là mẹ và có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung. Chị H đã tự mình chăm sóc nuôi dưỡng cháu M từ khi ly thân với anh G. Anh G đi làm ăn xa, không thường xuyên và không trực tiếp quan tâm chăm sóc con chung được.Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định giao con chung cho chị H là mẹ chăm sóc giáo dục là tốt cho sự phát triển tâm sinh lý và đảm bảo quyền lợi cho các cháu là phù hợp. Chị H không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị là hoàn toàn tự nguyện nên cần chấp nhận.
[3] Về tài sản chung, công nợ chung, công đóng góp gia đình: Anh Nguyễn Văn G vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 28, 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81,82,83,84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn G.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Nhật M, sinh ngày 16/11/2017 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Nguyễn Văn G không phải đóng góp tiền nuôi con chung cùng chị H vì chị H không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở
- Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp gia đình: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm (Xác nhận chị H đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003410 của chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ).
Về quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn G vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thơm |
Bản án số 16/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 16/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị H xin ly hôn anh Nguyễn Văn G
