|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:26/2024/HSST
Ngày: 16/5/2024
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phan Quang Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cao Thị Hằng và ông Nguyễn Bá Thảo
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Thị Lan - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An và tại nhà tạm giữ Công an huyện N, Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn xét xử sơ thẩm, trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 14/2024/HSST ngày 09 tháng 4 năm 2024 và theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25 ngày 04/5/2024 đối với các bị cáo:
Lê Văn N – tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày 12/10/1971; Nơi ĐKHKTT: Xóm N - xã N - N - Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông Lê Hồng T – đã chết và bà Nguyễn Thị L – đã chết; vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1972 và có 02 con, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Năm 2006 bị TAND huyện Quỳ Hợp xử phạt 24 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”; năm 2008 bị TAND huyện Nghĩa Đàn xử phạt 30 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; năm 2013 bị TAND huyện Nghĩa Đàn xử phạt 07 năm tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Hồ Văn L1 - tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày 04/7/2005; Nơi ĐKHKTT: Xóm N - xã N - N - Nghệ An; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Hồ Văn V - sinh năm 1983 và bà Lê Thị Đ – sinh năm 1983; vợ: con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Chị Lê Thị Đ, sinh năm 1983
Trú tại: Xóm N, xã N, huyện N, Nghệ An. Vắng mặt.
Chị Hoàng Thị H1, sinh năm 1975
Trú tại: Xóm T, xã N, N, Nghệ An. Vắng mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Hồ Văn L1 có ông: Nguyễn Thái Q, trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn N là đối tượng nghiện ma túy. Biết việc mua bán ma túy kiếm được lợi nhuận cao và có tiền để sử dụng ma túy cho bản thân nên N nảy sinh ý định mua ma túy về bán lại cho các đối tượng nghiện khác để kiếm lời. Vào chiều ngày 15/12/2023, Lê Văn N đi xe khách lên khu vực xã C, huyện Q để tìm mua ma túy thì gặp một người đàn ông không quen biết, khoảng 50 tuổi, da ngăm đen, cao khoảng 1,52 mét, dáng người thấp lùn. Qua nói chuyện, biết người này có ma túy bán nên Lê Văn N hỏi mua thì người này đồng ý. Lê Văn N mua của người này 59 viên ma túy hồng phiến và 01 gói hê rô in với giá 2.950.000đ (hai triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, N đem về nhà cất dấu để khi nào có người hỏi mua thì bán. Chiều ngày 17/12/2023, Hồ Văn L1, sinh năm 2005 điện thoại đến cho Lê Văn N hỏi mua hồng phiến thì N đồng ý bán. Sau đó Hồ Văn L1 dùng xe máy BKS 37G1 – 785.91 đi đến nhà Lê Văn N mua 09 viên ma túy hồng phiến với giá 1.100.000đ (một triệu một trăm nghìn đồng). Sau khi bán 09 viên ma túy cho Luật, còn lại 50 viên ma túy hồng phiến, Nam chia thành 02 gói, một gói chứa 19 viên Nam cất dấu trong túi quần và 01 gói chứa 31 viên Nam cất dấu trong cánh tủ trong phòng ngủ của N. Với gói ma túy là hê rô in, N chia thành 02 phần rồi cất dấu tại nhà. Đối với Hồ Văn L1, sau khi mua được ma túy từ N, Luật cầm gói ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe máy đi về đến đoạn đường liên xóm thuộc xóm Đ, xã N, huyện N thì bị lực lượng Công an huyện N bắt quả tang, thu giữ tang vật và người đưa về trụ sở để điều tra làm rõ. Chiều ngày 19/12/2023, Lê Văn N đưa 19 viên ma túy hồng phiến đến khu vực xóm N, xã N để tìm người mua để bán thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang. Cơ quan Công an đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Văn N phát hiện tại ngăn tủ bếp phía trên, bên phải, dưới cốc thủy tinh trong suốt 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là hê rô in; phát hiện thu giữ tại tại vị trí phía trong cánh tủ bên phải, trên mép tủ phía trên để trong phòng ngủ 01 gói ni long màu đen bên trong chứa các viên nén, màu hồng và 01 gói ni long trong suốt bên trong chứa chất bột màu trắng. Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại xác định: 09 viên nén hình tròn màu hồng thu giữ của Hồ Văn L1 sau khi loại bỏ bao bì có khối lượng 0,85 gam, lấy ngẫu nhiên 02 viên nén hình tròn màu hồng có khối lượng 0,18 gam đi giám định, số viên nén còn lại có khối lượng 0,67gam niêm phong lại; 19 viên nén hình tròn màu hồng thu giữ của Lê Văn N có khối lượng 1,87 gam, lấy ngẫu nhiên 03 viên nén hình tròn màu hồng có khối lượng 0,29 gam đi giám định, số các viên nén hình tròn màu hồng còn lại có khối lượng 1,58 gam được niêm phong chờ xử lý; 31 viên nén hình tròn màu hồng thu giữ của Lê Văn N sau khi loại bỏ bao bì có khối lượng 3,1 gam, lấy 0,31 gam gửi đi giám định, số viên nén màu hồng còn lại có khối lượng 2,79 gam được niêm phong; 01 gói nilon trong suốt, bên trong chứa chất bột màu trắng thu giữ của Lê Văn N sau khi loại bỏ bao bì có khối lượng 0,89 gam, lấy 0,16 gam đi giám định, số chất bột còn lại 0,73 gam được niêm phong; 01 gói giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng thu giữ của Lê Văn N sau khi loại bỏ bao bì, số chất bột màu trắng có khối lượng 0,09 gam, lấy 0,06 gam đi giám định, số chất bột còn lại 0,03 gam được niêm phong.
Tại kết luận giám định số 15/KL – KTHS ngày 22 tháng 12 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu các viên nén hình tròn màu hồng thu giữ của Hồ Văn L1 gửi tới giám định là ma túy, loại Methamphetamine.
Tại kết luận giám định số 45/KL – KTHS ngày 24/12/2023 của Phòng K công an tỉnh N kết luận: hai mẫu các viên nén hình tròn màu hồng thu giữ của Lê Văn N gửi đến giám định đều là ma túy, loại methamphetamine; 02 mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Lê Văn N gửi tới giám định đều là ma túy, loại heroin.
Cáo trạng số 23/VKS – HS ngày 08/4/2024 của VKSND huyện Nghĩa Đàn đã truy tố bị cáo Lê Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 điều 251 BLHS; truy tố bị cáo Hồ Văn L1 về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa ý kiến của Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý đối với bị cáo như sau: Xử phạt bị cáo Lê Văn N từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt Hồ Văn L1 từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu đi giám định của các bị cáo. Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền 1.100.000đ (một triệu một trăm nghìn đồng) tại bị cáo Lê Văn N do bán ma túy mà có.
Thu giữ của Hồ Văn L1 một chiếc xe máy nhãn hiệu Wave BKS 37G1 – 758.91; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A, màu xanh bạc, số seri 36553/62TT00241, bên trong có gắn sim viettel số thuê bao 0387.047.xxx mặt sau của sim có số 8984048000920206512; 01 gói ni lon trong suốt kích thước (7x4x0,1)cm bên trong chứa 09 viên nén màu hồng, đã lấy 02 viên đi giám định còn lại 07 viên được niêm phong lại.
Thu giữ của Lê Văn N gồm những vật chứng sau: 01 chiếc điện thoại di động Oppo A55, màu đen, số Imeil: 867143064398654, số imei2: 867143064398647 bên trong có gắn 01 chiếc sim mobifone, mặt sau sim có số 8401180812626080.WD và 01 sim viettel mặt sau có số 8984048000335624523; Số tiền 500.000đ gồm 01 tờ tiền polime mệnh giá 200.000đ và 03 tờ tiền polime mỗi tờ mệnh giá 100.000đ; 01 bơm kim y tế loại 3ml/cc và 01 bật lửa màu đỏ ký tự 555 Vip đã qua sử dụng; 01 gói ni lông màu đen, kích thước (4x3x1) cm bên trong chứa các viên nén hình tròn màu hồng có khối lượng 3,1 gam, lấy 0,31 gam đi giám định còn lại 2,79 gam được niêm phong lại; 01 gói ni lông màu đen kích thước (4x 3,2x1,4)cm bên trong chứa 19 viên nén hình tròn màu hồng có khối lượng1,87 gam, lấy 03 viên nén có khối lượng 0,29 gam đi giám định, còn lại 1,58 gam được niêm phong lại; 01 gói giấy màu trắng kích thước (2x1x0,2)cm bên trong chứa chất bột màu trắng có khối lượng 0,09 gam, lấy 0,06 gam gửi giám định, còn 0,03 gam niêm phong; 01 gói nilon trong suốt kích thước (2x1,5x0,4)cm bên trong chứa chất bột màu trắng có khối lượng 0,89 gam, lấy 0,16 gam đi giám định còn 0,73 gam được niêm phong lại.
Đối với người đàn ông lạ mặt bán ma túy cho bị cáo N, đặc điểm như mô tả của bị cáo thì cơ quan chức năng đã xác minh nhưng chưa có kết quả. Lúc nào xác minh được sẽ xử lý sau.
Người bào chữa cho bị cáo Hồ Văn L1 trình bày: Về tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn truy tố bị cáo Luật thì người bào chữa đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn. Tại phiên tòa hôm nay người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các điều kiện sau để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo Luật sống ở xã vùng sâu vùng xa, có điều kiện kinh tế khó khăn, bị cáo là người dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật còn hạn chế, có nhân thân tốt, tuổi đời còn rất trẻ, gia đình là hộ cận nghèo nên đề nghị miễn án phí HSST cho bị cáo. Với những tình tiết như vậy người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo Hồ Văn L1 từ 12 đến 15 tháng tù để bị cáo sớm có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn N và Hồ Văn L1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng.
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ, người làm chứng, người liên quan, vật chứng đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Từ đó xác định được vào chiều ngày 15/12/2023, Lê Văn N đi xe khách lên khu vực xã C, huyện Q để mua ma túy về bán kiếm lời. Tại đây N đã mua 59 viên ma túy methamphetamine và 01 gói heroin với giá 2.950.000đ. Đến khoảng 18 giờ 30 ngày 17/12/2023, Hồ Văn L1 đã đi đến mua của N 09 viên ma túy methamphetamine với giá 1.100.000đ nhằm mục đích sử dụng. Sau khi mua được ma túy, Hồ Văn L1 cầm gói ma túy vừa mua được đi đến đoạn đường thuộc xóm Đ, xã N, huyện N thì bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật. Đến chiều tối ngày 19/12/2023, khi Lê Văn N mang theo 19 viên ma túy hồng phiến đi đến khu vực xóm N, xã N, N tìm người mua để bán thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N phát hiện bắt giữ. Tiến hành khám xét chỗ ở của N đã thu giữ toàn bộ số ma túy methamphetamine và số heroin của N đang cất dấu. Số ma túy phethamphetamine thu giữ của Lê Văn N có tổng khối lượng là 4,97 gam, số ma túy hê rô in thu giữ của Lê Văn N có khối lượng là 0,98 gam. Số ma túy methamphetamine Hồ Văn L1 mua của Lê Văn N có khối lượng 0,85 gam. Như vậy tổng khối lượng 02 chất ma túy Lê Văn N mua bán là 6,8 gam (sáu phẩy tám gam). Hành vi mua ma túy sau đó bán lại cho người khác của Lê Văn N đã phạm vào tội “mua bán trái phép chất ma túy”. Đối với Hồ Văn L1 mua ma túy của N về mục đích sử dụng vì vậy Luật đã phạm vào tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Với khối lượng và các chất ma túy như trên, Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Văn N phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 điều 251 BLHS, bị cáo Hồ Văn L1 phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS như cáo trạng quy kết là có căn cứ.
Xét tình hình tội phạm ma túy đang diễn biến phức tạp và chưa có chiều hướng giảm nên cần đưa vụ án ra xét xử kịp thời và nghiêm là cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục riêng cho các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Đây là vụ án thuộc loại rất nghiêm trọng, các bị cáo ý thức được hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy gây nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm. Nhưng do bản chất ăn chơi, đua đòi không biết làm chủ bản thân đã đẩy các bị cáo vào con đường phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý Nhà nước đối với chất ma túy. Việc sử dụng ma túy trái phép gây tác hại xấu đến sức khỏe, làm suy thoái đạo đức, làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do vậy cần phải xử lý nghiêm.
Đối với chị Lê Thị Đ cho Hồ Văn L1 mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Wave BKS 37G1 – 758.91, quá trình điều tra cơ quan điều tra chứng minh chị Đ không biết L1 dùng xe để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã làm thủ tục trả lại chiếc xe này cho chị Đ.
Đối với số tiền 500.000đ gồm 01 tờ tiền polime mệnh giá 200.000đ và 03 tờ tiền polime mỗi tờ mệnh giá 100.000₫ thu giữ của Lê Văn N, số tiền này N mượn của chị Hoàng Thị H1 để tiêu xài cá nhân, N chưa kịp dùng vào việc tiêu xài thì bị bắt, cơ quan điều tra đã làm thủ tục trả số tiền trên cho chị H1. Chị H1 đã nhận lại số tiền này và không có yêu cầu gì nữa.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS.
Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra, kết hợp với việc xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy cần phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian như đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là đối tượng nghiện, thu nhập thấp nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về tang vật vụ án: Số chất ma túy thu của các bị cáo (số còn lại sau khi lấy mẫu đi giám định) là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; 01 bơm kim y tế loại 3ml/cc và 01 bật lửa màu đỏ ký tự 555 Vip đã qua sử dụng không còn giá trị sử dụng cần tuyên tiêu hủy.
Đối với số tiền 1.100.000đ là tiền bị cáo N thu lợi bất hợp pháp cần truy thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A, màu xanh bạc, số seri 36553/62TT00241, bên trong có gắn sim viettel số thuê bao 0387.047.xxx mặt sau của sim có số 8984048000920206512 thu giữ của Hồ Văn L1 đây là chiếc điện thoại bị cáo dùng để liên lạc với Lê Văn N để mua ma túy cần tịch thu bán hóa giá sung quỹ nhà nước. Đối với 01 chiếc điện thoại di động Oppo A55, màu đen, số Imeil: 867143064398654, số imei2: 867143064398647 bên trong có gắn 01 chiếc sim mobifone, mặt sau sim có số 8401180812626080.WD và 01 sim viettel mặt sau có số 8984048000335624523, thu giữ của Lê Văn N chiếc điện thoại này bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma túy cần tịch thu bán sung quỹ Nhà nước.
Về án phí: bị cáo Lê Văn N phải chịu theo quy định của pháp luật. Đối với bị có Hồ Văn L1 thuộc hộ cận nghèo nên miễn án phí HSST cho bị cáo.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Hồ Văn L1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm p khoản 2 điều 251; điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Lê Văn N 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo là ngày 19/12/2023.
Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Hồ Văn L1 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo là ngày 17/12/2023.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư bưu điện đặc điểm như sau: kích thước 18 x 12 cm, bên trong là số ma túy thu giữ của Hồ Văn L1 còn lại sau khi lấy mẫu đi giám định. Các mép phong bì thư được dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của các thành phần tham gia, phía trước phong bì thư có ghi “vật chứng thu giữ của Hồ Văn L1 ngày 17/12/2023”.
01 phong bì thư bưu điện kích thước 18 x 12 cm, bên trong là số ma túy thu giữ của Lê Văn N ký hiệu M1A còn lại sau khi lấy mẫu đi giám định. Các mép phong bì thư được dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của các thành phần tham gia, phía trước phong bì thư có ghi “vật chứng thu giữ của Lê Văn N ngày 19/12/2023”.
01 phong bì thư bưu điện, kích thước 18cmx12cm, bên trong chứa số vật chứng còn lại ký hiệu M2A, M3A, M4A phong bì bưu điện được niêm phong ban đầu, các gói nilon màu đen, gói nilon trong suốt, gói giấy còn lại sau khi mở, lấy mẫu giám định. Các mép phong bì thư được dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của các thành phần tham gia, phía trước phong bì thư có ghi “vật chứng thu giữ của Lê Văn N ngày 19/12/2023”; 01 bơm kim tiêm y tế loại 3ml/cc, kim tiêm đã qua sử dụng; 01 chiếc bật lửa màu đỏ in ký tự 555Vip, bật lửa đã qua sử dụng. Đặc điểm cụ thể của vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn ngày 08/4/2024.
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điều 47 BLHS: Truy thu số tiền 1.100.000₫ (một triệu một trăm nghìn đồng) là số tiền Lê Văn N bán ma túy mà có để sung quỹ Nhà nước
Tuyên tịch thu để bán hóa giá sung quỹ nhà nước: một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A, màu xanh bạc, số seri 36553/62TT00241, bên trong có gắn sim viettel số thuê bao 0387.047.xxx mặt sau của sim có số 8984048000920206512 thu giữ của Hồ Văn L1; 01 chiếc điện thoại di động Oppo A55, màu đen, số Imeil: 867143064398654, số imei2: 867143064398647 bên trong có gắn 01 chiếc sim mobifone, mặt sau sim có số 8401180812626080.WD và 01 sim viettel mặt sau có số 8984048000335624523, thu giữ của Lê Văn N.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 BLTTHS; Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lê Văn N phải chịu 200.000đồng tiền án phí HSST. Miễn án phí HSST cho bị cáo Hồ Văn L1.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo lên tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Phan Quang Sơn |
Bản án số 26/2024/HSST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 26/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử công khai, trực tuyến
