|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 16/2024/HNGĐ-ST Ngày 16 tháng 4 năm 2024 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Ánh Hằng; ông Lê Thanh Hảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 323/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 03 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30A/2024/QĐST-DS ngày 27/3/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Mỹ H, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp H, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang, có mặt.
- Bị đơn: Ông Bành Trí N, sinh năm 1981; địa chỉ: B, khóm H, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà H trình bày:
Bà H và ông N do mai mối nên quen biết, tiến đến hôn nhân và chung sống vào năm 2004, có đăng ký ký hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố C, Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 335/HT ngày 22/12/2004. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông N thường xuyên dùng lời lẽ thô tục đối với bà H, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không còn tôn trọng nhau. Nhận thấy không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống nên bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn ông N.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 03 con chung gồm Bành Nhật Huy, sinh ngày 06/5/2006, Bành Anh K, sinh ngày 17/3/2009, Bành Thảo V, sinh ngày 30/5/2019. Các con hiện đang sống cùng bà H, Bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi 03 con chung, yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi 03 con chung 5.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Tòa án tiến hành mở phiên họp công khai chứng, cứ hòa giải về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung giữa các đương sự nhưng ông N nhiều lần không tham dự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử công bố biên bản xác minh thể hiện mối quan hệ hôn nhân giữa ông N và bà H không xác định được mâu thuẫn vợ chồng, cả hai không còn chung sống cùng nhau, hiện ông N vẫn còn đăng ký thường trú tại địa phương, nghề nghiệp hiện là tài xế.
Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa
Về hôn nhân của bà H với ông N là do tự tìm hiểu và có đăng ký kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng. Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và sống chung với nhau. Tuy nhiên, qua kết quả xác minh tại địa phương thể hiện bà H cùng các con không còn chung sống tại gia đình nhà chồng như thời gian trước.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, ông N nhiều lần vắng mặt không có lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bà H cương quyết yêu cầu ly hôn. Điều đó chứng tỏ, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, có kéo dài cuộc hôn nhân thì mục đích hôn nhân cũng không đạt. Do đó, bà H yêu cầu được ly hôn với ông N là có căn cứ.
Về con chung, xét thấy 03 con chung tên B Nhật Huy sinh ngày 06/5/2006, Bành A Khoa sinh ngày 17/3/2009 và Bành Thảo V sinh ngày 30/5/2019 hiện sống cùng bà H; bà có yêu cầu nuôi dạy các con chung và yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi 03 con chung 2.700.000 đồng/tháng; các con chung Nhật Huy và Anh K có tờ tường trình gửi Tòa cho biết hiện các con đang sống cùng bà H, có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng mẹ. Do đó, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung thì cho bà H được tiếp tục nuôi dạy các con chung và buộc ông N cấp dưỡng nuôi con chung 900.000 đồng/tháng/con chung là phù hợp quy định pháp luật cũng như nguyện vọng các con.
Tài sản chung, nợ chung: Bà H khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Tại phiên tòa bà H rút lại yêu cầu cấp dưỡng nuôi 03 con 2.300.000 đồng/tháng so với số tiền yêu cầu cấp dưỡng tại đơn khởi kiện; xác định yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi 03 con chung 2.700.000 đồng/tháng. Xét thấy, việc bà H rút lại một phần yêu cầu khởi kiện là sự tự nguyện và phù hợp với quy định pháp luật nên cần đình chỉ.
Từ phân tích trên, căn cứ Điều 244 BLTTDS năm 2015 đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện mà bà H đã rút đối với số tiền yêu cầu cấp dưỡng là 2.300.000 đồng; áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Mỹ H được ly hôn với ông B Trí Nghiệp; bà H được nuôi 03 con chung tên Bành Nhật Huy sinh ngày 06/5/2006, Bành A Khoa sinh ngày 17/3/2009 và Bành Thảo V sinh ngày 30/5/2019; ông N cấp dưỡng nuôi con chung 900.000 đồng/tháng/con chung.
Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng
[1] Nguyên đơn khởi kiện ly hôn với bị đơn cư trú thành phố C. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Bị đơn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung
[3] Bà H và ông N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố C nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Xét nguyên nhân mâu thuẫn mà bà H trình bày, ông N không có ý kiến gì về việc ly hôn, nhiều lần Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt không có lý do, cho thấy không có thiện chí hàn gắn, níu kéo lại tình cảm vợ chồng mà bỏ mặc cả hai mạnh ai nấy sống. Từ đó, cho thấy tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau, tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, bà H cương quyết ly hôn. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ để chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H như đề nghị của Kiểm sát viên.
[4] Về con chung, vợ chồng bà Đỗ Thị Mỹ H, ông Bành Trí N có 03 con chung con chung Bành Nhật Huy sinh ngày 06/5/2006, Bành A Khoa sinh ngày 17/3/2009 và Bành Thảo V sinh ngày 30/5/2019 hiện đang sống cùng bà H. Xét thấy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con, cũng như nguyện vọng của con, căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, xét giao 03 con chung Bành Nhật Huy, B K và Bành Thảo V cho bà H tiếp tục nuôi dạy, chăm sóc cho đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Bà Đỗ Thị Mỹ H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông ông Bành Trí N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con:
Tại đơn khởi kiện, bà H yêu cầu được cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000 đồng/ tháng/03 con, nay tại phiên tòa, bà rút lại 01 phần yêu cầu cấp dưỡng, chỉ yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật.
Xét thấy, căn cứ Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình quy định cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, do đó, yêu cầu của bà H là hoàn toàn chính đáng để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các con. Tuy nhiên, do ông N vắng mặt nên không ghi nhận ý kiến thỏa thuận được, mặt khác, qua xác minh thể hiện nghề nghiệp của ông N là tài xế, thu nhập không ổn định. Cho nên, căn cứ quy định của pháp luật nếu không thỏa thuận được thì mức cấp dưỡng nuôi con không quá ½ mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định, tức 900.000 đồng/tháng/cháu. Hội đồng xét xử buộc ông Bành Trí N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi các con chung Bành Nhật Huy sinh ngày 06/5/2006, Bành A Khoa sinh ngày 17/3/2009 và Bành Thảo V sinh ngày 30/5/2019 cho đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động với số tiền 900.000 đồng/tháng/cháu, tổng cộng là 2.700.000 đồng/tháng/03 cháu. Thời gian cấp dưỡng ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Bà H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Đình chỉ phần rút lại yêu cầu của bà H về việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi các con chung là 2.300.000 đồng/tháng/3 con.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Bà H khai không có nên không đề cập.
[7] Về án phí: Bà Bà Đỗ Thị Mỹ H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003542 ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc; Bà H đã nộp đủ án phí.
Ông N không chịu án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 147, Điều 227, Điều 228, và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị Mỹ H.
- Về quan hệ hôn nhân, bà Đỗ Thị Mỹ H được ly hôn với ông Bành Trí N.
- Về con chung, bà Đỗ Thị Mỹ H được tiếp tục nuôi dạy 03 con chung con chung Bành Nhật Huy sinh ngày 06/5/2006, Bành A Khoa sinh ngày 17/3/2009 và Bành Thảo V sinh ngày 30/5/2019 cho đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Bà Đỗ Thị Mỹ H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông ông Bành Trí N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Bành Trí N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi các con chung Bành Nhật Huy sinh ngày 06/5/2006, Bành A Khoa sinh ngày 17/3/2009 và Bành Thảo V sinh ngày 30/5/2019 cho đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động với số tiền 900.000 đồng/tháng/cháu, tổng cộng là 2.700.000 đồng/tháng/03 cháu. Thời gian cấp dưỡng ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ Điều 244 BLTTDS năm 2015, đình chỉ rút một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Mỹ H đối với số tiền cấp dưỡng là 2.300.000 đồng.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm
Bà Đỗ Thị Mỹ H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003542 ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc; Bà H đã nộp đủ án phí.
Ông N không chịu án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng.
- Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bà Đỗ Thị Mỹ H có quyền làm đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của ông Bành Trí N là 15 ngày, kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trịnh Thị Ngọc Hà |
Bản án số 16/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Số bản án: 16/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà H và ông N do mai mối nên quen biết, tiến đến hôn nhân và chung sống vào năm 2004, có đăng ký ký hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố C, Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 335/HT ngày 22/12/2004. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông N thường xuyên dùng lời lẽ thô tục đối với bà H, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không còn tôn trọng nhau. Nhận thấy không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống nên bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn ông N. Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 03 con chung gồm Bành Nhật Huy, sinh ngày 06/5/2006, Bành Anh K, sinh ngày 17/3/2009, Bành Thảo V, sinh ngày 30/5/2019. Các con hiện đang sống cùng bà H, Bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi 03 con chung, yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi 03 con chung 5.000.000 đồng/tháng. Về tài sản chung, nợ chung: Không có. Tòa án tiến hành mở phiên họp công khai chứng, cứ hòa giải về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung giữa các đương sự nhưng ông N nhiều lần không tham dự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử công bố biên bản xác minh thể hiện mối quan hệ hôn nhân giữa ông N và bà H không xác định được mâu thuẫn vợ chồng, cả hai không còn chnug sống cùng nhau, hiện ông N vẫn còn đăng ký thường trú tại địa phương, nghề nghiệp hiện là tài xế.
