Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHIÊM HÓA

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HS-ST

Ngày 16-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Tấn;

2. Ông Nguyễn Xuân Tuyến

Thư ký phiên tòa: Bà Bàn Thị Bích Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Duy Luận - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hóa, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2024/TLST-HS, ngày 21 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Nông Văn Q, sinh ngày 08/3/1990, tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang;

Nơi cư trú: Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; bố đẻ: Nông Văn C (đã chết); mẹ đẻ: Nông Thị V, sinh năm 1965; có vợ là Hoàng Thị M, sinh năm 1990 (đã ly hôn) và có 01 con, sinh năm 2010;

* Tiền án: Không;

* Tiền sự:

  • Ngày 21/10/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Quyết định số 19/2022/QĐ-TA);
  • Ngày 02/5/2023 bị Ủy ban nhân dân xã X xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, phạt tiền 2.500.000 đồng (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 91/QĐ-UBND), chưa nộp phạt;

* Nhân thân:

  • Ngày 08/3/2006 bị Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng về hành vi gây rối trật tự công cộng (Quyết định số 964/QĐ-CT), chấp hành xong ngày 01/11/2007;
  • Ngày 06/3/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 03 năm tù về tội cố ý gây thương tích (Bản án số 04/2014/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2015;
  • Ngày 26/02/2018 bị Ủy ban nhân dân xã X, huyện C quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã (Quyết định số 146/QĐ-UBND);
  • Ngày 15/11/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 02 năm tính từ ngày 23/09/2019 (Quyết định số 05/QĐ-TA);
  • Ngày 30/11/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Bản án số 77/2020/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/10/2021;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

2. Lê Minh H, sinh ngày 01/12/1981, tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang;

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; bố đẻ: Lê Ngọc T1, sinh năm 1956; mẹ đẻ: Lưu Thị M1, sinh năm 1956; vợ, con chưa có;

* Tiền án: Không;

* Tiền sự: Ngày 12/01/2023 bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, phạt tiền 275.000 đồng (Quyết định xử lý vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPHC), đã nộp phạt ngày 17/01/2023;

* Nhân thân:

  • Ngày 28/9/2004 bị Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xử phạt 24 tháng tù giam về tội mua bán trái phép chất ma túy (Bản án số: 108/STHS), đã chấp hành xong bản án;
  • Ngày 07/01/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 48 tháng, phạt tiền 8.000.000 đồng về tội đánh bạc (Bản án số: 01/2009/HSST), đã chấp hành xong bản án;
  • Ngày 22/6/2021 bị UBND xã N, huyện C quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã (Quyết định số 111/QĐ-UBND), đã chấp hành xong quyết định;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 14/12/2023, bị cáo Nông Văn Q đang ngồi uống nước tại khu vực tổ V, thị trấn V, huyện C thì này sinh ý định mua Heroine về sử dụng nên đã mượn điện thoại di động của một người đàn ông không quen biết rồi gọi đến số thuê bao 0975.597.793 của Lê Minh H hỏi “Anh có hàng không để em một cái” ý Quản hỏi H có Heroine bán không, H trả lời “Có, lên cây số 3 đi” và hẹn Quản gặp tại khu vực cầu S, thuộc thôn Đ, xã N, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Sau đó Q tiếp tục mượn xe mô tô của một người đàn ông không quen biết đang uống nước gần đó để đi đến điểm hẹn. Khi gặp nhau Q đưa cho H số tiền 300.000 đồng; H cầm tiền rồi lấy từ trong miệng 01 (Một) gói nhỏ Heroine dạng bột vón cục màu trắng (có đặc điểm bên ngoài gói bằng nilong màu trắng, tiếp đến là lớp giấy bạc màu trắng) đưa cho Q (lúc này khoảng 8 giờ 45 phút ngày 14/12/2023). Mua được Heroine Q1 đi vào chỗ vắng người sử dụng hết một phần bằng cách tiêm chích vào cơ thể, số Heroine còn lại Quản đút vào túi quần bên phải đang mặc rồi quay lại quán nước để trả xe rồi đi bộ về nhà.

Khoảng 07 giờ ngày 15/12/2023 Q1 đi bộ từ nhà mang theo gói Heroine có đặc điểm nêu trên để tìm nơi sử dụng, khi đến khu vực tổ dân phố V, thị trấn V, huyện C thì gặp tổ công tác Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đang làm nhiệm vụ nghi Quản có hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy nên đã yêu cầu về trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện C để kiểm tra (lúc này khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày). Quá trình làm việc Quản tự giác giao nộp gói Heroine có đặc điểm nêu trên và khai nhận đã mua được Heroine từ Lê Minh H, tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ cùng toàn bộ vật chứng.

Trên cơ sở lời khai của Nông Văn Q: Hồi 10 giờ 10 phút ngày 15/12/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Lê Minh H nhưng không phát hiện thu giữ gì. Đối với nguồn gốc số H1 đã bán cho Q, Lê Minh H khai nhận: Khoảng 16 giờ, ngày 13/12/2023, H mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực thủy điện ITC huyện C, với giá 1.000.000 đồng. Mua được Heroine H sử dụng một phần bằng cách đốt hít vào cơ thể, số còn lại ngày 14/12/2023, H đã bán gói H1 cho Q với giá 300.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tiến hành lập biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Minh H về hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý.

Tại các biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đối với Nông Văn Q, Lê Minh H, kết quả (+) dương tính với chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 15/KL-KTHS ngày 18/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu vật thu giữ của Nông Văn Q gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (Hêrôin); khối lượng 0,156g (Không phẩy một năm sáu gam).

Bản Cáo trạng số 15/CT-VKSCH, ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Lê Minh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Nông Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố bị cáo Lê Minh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nông Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Áp dụng: Khoản 1, 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Lê Minh H từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về. Thời hạn tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/12/2023.

  • Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nông Văn Q từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/12/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nông Văn Q; phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 triệu đồng đối với bị cáo Lê Minh H, sung vào ngân sách Nhà nước.

  • Áp dụng: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • Tịch thu, tiêu hủy số Heroine đã thu giữ của bị cáo Nông Văn Q;
    • Tịch thu thu sung ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo Lê Minh H bán ma túy mà có là 300.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh, số IMEI 1: 355728262036830/01; IMEI 2: 356203782036834/01, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
    • Trả lại cho bị cáo Lê Minh H 01 thẻ sim số 0975597793, số seri sim: 89840.48000.93254.1692.
  • Áp dụng các Điều 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Tại phiên tòa, các bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, không có tình tiết gì mới; các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì; các bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo nói lời sau cùng, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo H đề nghị trả lại 01 thẻ sim điện thoại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện C; Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

  • Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 14/12/2023, tại khu vực cầu S thuộc thôn Đ, xã N, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, bị cáo Lê Minh H đã có hành vi bán trái phép 01 gói Heroine cho bị cáo Nông Văn Q, với số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).
  • Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 15/12/2023, tại khu vực tổ dân phố V, thị trấn V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, bị cáo Nông Văn Q đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,156g (Không phẩy một năm sáu gam) Heroine, mục đích để sử dụng.

Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo Lê Minh H đã thực hiện hành vi mua ma túy, sau đó bán 01 gói loại Heroine cho Nông Văn Q với số tiền 300.000 đồng, hành vi của bị cáo H đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nông Văn Q có hành vi tàng trữ trái phép 0,156 gam chất ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng, hành vi của bị cáo Q đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang truy tố các bị cáo về tội phạm nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại đoạn 1 điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo H có bà nội là Vũ Thị P được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4]. Về mức hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân thường gây ra các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Do vậy cần phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt tù nghiêm minh tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để cải tạo, giáo dục các bị cáo đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Các bị cáo Lê Minh H, Nông Văn Q đều có nhân thân xấu, có tiền sự. Bị cáo Lê Minh H đã 02 lần bị Tòa án kết án phạt tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Đánh bạc" vào năm 2004, 2009; ngày 22/6/2021 bị cáo H bị UBND xã N áp dụng biện pháp giáo dục tại xã và ngày 12/01/2023, bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc (bị cáo đã chấp hành xong việc nộp phạt). Bị cáo Nông Văn Q đã 02 lần bị Tòa án kết án phạt tù về tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vào năm 2014, 2020; bị cáo Q đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và áp dụng biện pháp giáo dục tại xã vào năm 2006 và năm 2018; 02 lần bị Toà án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vào năm 2018 và 2022; ngày 02/5/2023, bị cáo Q bị UBND xã X xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản (bị cáo Q chưa chấp hành nộp phạt). Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, khối lượng chất ma tuý mà các bị cáo mua bán, tàng trữ, cũng như nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, có căn cứ.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Hành vi tàng trữ trái pháp chất ma tuý của bị cáo Q nhằm mục đích sử dụng, không có mục đích vụ lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo Q. Đối với hành vi bán trái phép chất ma tuý của bị cáo H nhằm mục đích kiếm lời, nên cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo H.

[6]. Về vật chứng, biện pháp tư pháp: Khối lượng Heroine thu giữ của bị cáo Q, Nhà nước cấm lưu hành sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 300.000 đồng do bị cáo H bán ma túy trái phép mà có, nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với điện thoại thu giữ của bị cáo Lê Minh H sử dụng để mua bán trái phép ma túy cần tịch thu bán sung vào ngân sách Nhà nước. Trả lại cho bị cáo H 01 thẻ sim số 0975597793.

[7]. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Minh H, Nông Văn Q, Công an huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền.

Đối với người đàn ông đã bán Heroine cho Lê Minh H, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý trong vụ án.

[8]. Các bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm; các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1, 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Minh H. Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nông Văn Q. Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Minh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nông Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

  • Xử phạt bị cáo Lê Minh H 02 (Hai) năm 05 (Năm) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/12/2023.

Phạt tiền bị cáo Lê Minh H 5.000.000đ (Năm triệu đồng), sung vào ngân sách Nhà nước.

  • Xử phạt bị cáo Nông Văn Q 01 (Một) năm 05 (Năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 15/12/2023.

3. Về vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Nông Văn Q, thành phần tham gia và 05 hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T. Mặt trước ghi tang vật vụ Nông Văn Q, giám định ngày 15/12/2023.
  • Tịch thu bán sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh, số IMEI 1: 355728262036830/01; IMEI 2: 356203782036834/01, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
  • Trả lại cho bị cáo Lê Minh H 01 thẻ sim số 0975597793, số seri sim: 89840.48000.93254.1692.

Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C với Chi cục thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa, lập ngày 22/3/2024.

  • Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền của bị cáo Lê Minh H phạm tội mà có là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).

Số tiền trên hiện đang gửi tại tài khoản tạm giữ số: 3591.0.1065091.00000 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, mở tại Kho bạc nhà nước huyện C, tỉnh Tuyên Quang, theo ủy nhiệm chi lập ngày 25/3/2024.

4. Về án phí: Các bị cáo Lê Minh H, Nông Văn Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • VKSND huyện Chiêm Hóa;
  • Trại Tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang;
  • Nhà tạm giữ Công an huyện Chiêm Hóa;
  • Công an huyện Chiêm Hóa;
  • Chi cục THADS huyện Chiêm Hóa;
  • Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • Bị cáo;
  • Hồ sơ vụ án hình sự;
  • Lưu HS.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Mạnh Tuấn

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Văn Tấn

Nguyễn Xuân Tuyến

Hoàng Mạnh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 16/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nông Văn Quản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger