Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÀNG ĐỊNH

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HNGĐ-ST

Ngày 15 - 8 - 2024

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bẩy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Đình Công;

Bà Lương Thu Hương.

-Thư ký phiên toà: Bà Bế Thị Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Trọng Hinh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 24/2024/TLST - HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Vi Thị L, sinh năm 1991, có mặt;
  • Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn
  • - Bị đơn: Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1987, vắng mặt.
  • Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 14/3/2024, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, các tài liệu đã được công khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Vi Thị L trình bày: Chị và anh Hoàng Văn H được tự do tìm hiểu và tự nguyện tiến tới hôn nhân không bị ai ép buộc, được tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn vào ngày 15/11/2012. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng vào Bình Dương làm việc để kiếm thêm thu nhập. Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc, cùng nhau tu chí làm ăn, cuộc sống hôn nhân hạnh phúc. Đến năm 2015, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do lối sống của anh Hoàng Văn H thường xuyên nhậu nhẹt, không tu chí làm ăn, không quan tâm cuộc sống gia đình, cộng thêm tính tình cục cằn, thường xuyên dùng bạo lực với chị, vì còn con nhỏ nên chị nhiều lần cố gắng khuyên nhủ nhưng anh H không thay đổi. Đến đầu năm 2023, anh H nhận tiền bảo hiểm và tự cầm tiền bỏ về nhà tại thôn H, xã Đ, huyện T. Hai vợ chồng ly thân từ thời điểm đó cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm không còn, không ai còn yêu thương chăm lo quan tâm đến nhau. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Hoàng Văn H.

Về con chung, chị và anh Hoàng Văn H có 01 con chung là cháu Hoàng Quỳnh H1, sinh ngày 21/3/2013. Khi ly hôn chị yêu cầu là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh H cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung, cho vay chung, riêng, chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Ngoài ra trong quá trình giải quyết, chị Vi Thị L có đơn yêu cầu Tòa án không tổ chức, tiến hành phiên họp hòa giải.

Bị đơn là anh Hoàng Văn H không có ý kiến gì đối với Thông báo thụ lý vụ án. Hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 199 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành triệu tập anh Hoàng Văn H 02 lần để làm việc nhưng anh H vắng mặt không có lý do.

Công bố tài liệu tại phiên tòa thể hiện: Tòa án tiến hành xác minh, làm việc với Trưởng thôn Hang M là ông La Văn H2 cho biết, hai vợ chồng có mâu thuẫn, lục đục về quan hệ hôn nhân. Hiện tại anh H đi làm công ty ở Bắc Ninh, Bắc Giang, từ lâu hai vợ chồng đã không sống chung, tết nhất cũng không thấy chị L về nhà ăn tết. Tiến hành xác minh tại nhà bố đẻ của anh Hoàng Văn H là ông Hoàng Văn L1 cho biết, sau khi hai vợ chồng kết hôn xong thì đi làm công ty ở Bình Dương được khoảng 10 năm, ít khi về thăm nhà. Do vậy giữa hai vợ chồng có mâu thuẫn gì hay không thì ông L1 không nắm được. Đến đầu năm 2023, anh H về nhà đi làm công ty ở Bắc Ninh, vài tháng sau chị L cũng về, không biết vợ chồng có việc gì mà chị L bỏ về nhà mẹ đẻ tại thôn Bản Chang, xã Đ, huyện T sinh sống. Đối với các văn bản tố tụng của Tòa án, gia đình nhận được đều thông tin cho anh H biết nhưng anh H nói rằng không xin nghỉ được và cũng không nói cho gia đình biết ý kiến của anh như thế nào về việc ly hôn.

Căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự Toà án tiến hành giao nhận các văn bản tố tụng và đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng hết thời hạn niêm yết theo quy định anh Hoàng Văn H vẫn không có mặt, mặc dù đã biết do gia đình đã thông tin.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn chị Vi Thị L đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn anh Hoàng Văn H đã được triệu tập hợp lệ những vẫn vắng mặt tại phiên tòa (hai lần) không có lý do, do vậy anh Hoàng Văn H không chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70 và Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xử cho chị Vi Thị L được ly hôn với anh Hoàng Văn H; về con chung, giao con chung là cháu Hoàng Quỳnh H1, sinh ngày 21/3/2013 cho chị Vi Thị L nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi cháu đủ 18 tuổi, anh Hoàng Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Hoàng Văn H có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở; không xem xét giải quyết về tài sản chung, nợ chung và cho vay chung; về án phí: Chị Vi Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Hoàng Văn H là bị đơn có đăng ký nhân khẩu thường trú tại: Thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định thẩm quyền thuộc Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Bị đơn anh Hoàng Văn H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2, dù được tòa án triệu tập hợp lệ, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng anh Hoàng Văn H vẫn không có mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Vi Thị L và anh Hoàng Văn H được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn vào ngày 15/11/2012, là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.

[3] Về nội dung vụ án: Tình cảm vợ chồng giữa chị Vi Thị L và anh Hoàng Văn H phát sinh mâu thuẫn từ năm 2015, nguyên nhân mâu thuẫn do bị đơn, anh Hoàng Văn H thường xuyên rượu chè với bạn bè, không chịu tu chí làm ăn, không quan tâm cuộc sống gia đình và khi mâu thuẫn thường dùng bạo lực với vợ; bản thân anh H không quan tâm đến khó khăn của vợ, thể hiện vào đầu năm 2023, anh H nhận được một khoản tiền bảo hiểm và tự bỏ về nhà tại thôn H, xã Đ, huyện T. Từ thời điểm đó hai vợ chồng sống ly thân. Vì mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên chị Vi Thị L đã yêu cầu ly hôn với anh Hoàng Văn H.

[4] Xét yêu cầu ly hôn, Hội đồng xét xử thấy rằng, mâu thuẫn giữa vợ chồng anh H và chị L đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không ai còn yêu thương, quan tâm chăm sóc ai; việc anh Hoàng Văn H biết thông tin vợ yêu cầu ly hôn cũng không có hành vi nào hàn gắn, không có ý kiến thuyết phục cũng như nhờ gia đình khuyên giải, điều đó thể hiện tình cảm vợ chồng không còn. Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị L và cho chị Vi Thị L được ly hôn với anh Hoàng Văn H.

[5] Xét yêu cầu giải quyết nuôi con chung: Giữa chị Vi Thị L và anh Hoàng Văn H có 01 con chung là cháu Hoàng Quỳnh H1, sinh ngày 21/3/2013, hiện cháu đang ở với chị Vi Thị L. Việc giao con chung khi ly hôn cho chị Vi Thị L là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi là hoàn toàn hợp lý và phù hợp với thực tế, phù hợp với nguyện vọng của cháu, đồng thời, không làm ảnh hưởng, sáo trộn tâm lý của trẻ; chị L không yêu cầu anh Hoàng Văn H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung, đây là ý kiến tự nguyên của chị L cần chấp nhận. Anh Hoàng Văn H có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

[6] Về tài sản chung, vay nợ chung, riêng: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, bị đơn không có yêu cầu phản tố. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Chị Vi Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, khoản 4 Điều 147, các Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị L được ly hôn với anh Hoàng Văn H.
  2. Về con chung: Giao cháu Hoàng Quỳnh H1, sinh ngày 21/3/2013 cho chị Vi Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Chị Vi Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm để sung Ngân sách Nhà nước. Xác nhận chị L đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001821, ngày 19/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Vi Thị L có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thơi hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Hoàng Văn H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Tràng Định;
  • - Chi cục THADS huyện Tràng Định;
  • - UBND xã Đội Cấn, H.Tràng Định, T.Lạng Sơn;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Bẩy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HNGĐ-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn

  • Số bản án: 16/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung L - H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger