|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 15/5/2024
Về việc: Ly hôn
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Mây
Các hội thẩm nhân dân: bà Thân Thị Quyên, bà Vũ Thị Lệ
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện VKSND huyện Phú Bình: Ông Đàm Hoàng S - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 227/2022/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2022 về việc Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐST - HNGĐ, ngày 18/3/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Hoài T, sinh năm 1980 – có mặt
Nơi ĐKHKTT: Xóm Làng, xã Ú, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
Địa chỉ hiện nay: Công ty A, ngõ F đường C, phường V, quận H, thành phố Hà Nội.
Bị đơn: Anh Dương Văn D, sinh năm 1978- vắng mặt
Địa chỉ: Xóm L, xã Ú, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
Người có quyền lợi liên quan: Bà Dương Thị T1, sinh năm 1957 và ông Dương Văn D1, sinh năm 1954 - vắng mặt
Cùng địa chỉ: Xóm Làng, xã Úc Kỳ, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Anh Đặng Xuân C, sinh năm 1982 - vắng mặt có lý do
Địa chỉ : P chung cư T huyện V, quận H, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn, lời khai tại Tòa án nguyên đơn là chị Đặng Thị Hoài T trình bày: Chị và anh Dương Văn D tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ú, huyện P, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 29/9/2017. Việc anh chị kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, sau kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì lớn, hai vợ chồng đã lập biên bản thỏa thuận để chị T đi Hà Nội làm ăn và nuôi con riêng của chị. Trong thời gian từ tháng 10/2021 đến tháng 3/2022, anh D vẫn đi lại thăm 2 mẹ con, đến tháng 4 năm 2022 thì anh D đơn phương gửi đơn đến Tòa án huyện Phú Bình để giải quyết ly hôn. Sau hai lần hòa giải không thành, do anh D không đồng ý thỏa thuận nên đã rút đơn về, từ đó anh D cắt liên lạc với chị và chị T có về gia đình để tìm hiểu nguyên nhân thì bị gia đình chồng đuổi và hai bên đã ly thân. Nay chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin ly hôn anh D để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về tài sản chung: Đề nghị Tòa án giải quyết phân chia tài sản theo thỏa thuận mà chị T, anh D đã kê khai tài sản chung của vợ chồng trong 4 năm chung sống, anh D đã ký xác nhận, đơn đã được Ủy ban nhân dân xã Ú xác nhận là sự thật gồm:
- Lò ấp trứng: 30.000.000 đồng
- Mua sắm vật dụng sửa chữa nhà cửa : 30.000.000 đồng
- Đầu tư trang trại nuôi vịt: 50.000.000 đồng
- Đầu tư xây lò ấp điện nước: 20.000.000 đồng
- Tiền mặt nơi giao hàng đang nợ: 20.000.000 đồng
- Số trứng hiện còn trong lò đang ấp: 50.000.000 đồng.
- 1.600 con vịt đang đẻ: 100.000.000 đồng
- 50 bao cám vịt đẻ: 20.000.000 đồng
- Hai hợp đồng bảo hiểm nhân thọ: 50.000.000 đồng
- ½ mảnh đất mua của bố mẹ chồng năm 2018 (tương đương 195m²) với số tiền 107.000.000 đồng.
- 2,5 sào đất màu: 15.000.000 đồng.
- Thửa đất 70m² tại xã Ú huyện P, tỉnh Thái Nguyên đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 794614 mang tên Dương Văn D và Đặng Thị Hoài T. Trên đất có nhà xây kiên cố. Chị T không yêu cầu chia giá trị nhà trên đất mà chỉ yêu cầu chia giá trị đất cho chị.
Đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thì tên của ai người đó đã cầm và đóng hàng năm nên chị T không yêu cầu giải quyết.
Toàn bộ tài sản chung và nợ chung đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn anh Dương Văn D tại bản tự khai trình bày: Anh và chị T có tự nguyện kết hôn, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ú, huyện P vào năm 2017. Trong quá trình chung sống anh chị có nhiều mẫu thuẫn do vợ chồng không có con chung, hai bên đều có con riêng. Đến nay anh và chị T đã ly thân, không quan tâm đến nhau, vợ chồng không thể hàn gắn tình cảm nên nhất trí ly hôn chị T.
Về con chung: Không có
Về tài sản chung vợ chồng: Anh D khai sẽ trình bày khi Tòa án tiến hành hòa giải.
Nợ chung: Vay ngân hàng N1 150.000.000 đồng. Sau khi chị T đi làm, anh D đã tự trả hết nợ cho ngân hàng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Dương Thị T1 và ông Dương Văn D1 trình bày: Anh D và chị T có đăng ký kết hôn năm 2017 tại UBND xã Ú, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi kết hôn vợ chồng tôi cho anh D, chị T ở riêng, không ở cùng ông bà và nhà vẫn là tài sản của ông bà. Trong quá trình chung sống, anh D chị T có nhiều mâu thuẫn, chủ yếu là do anh chị T - Dược không có con chung, cả hai bên đều có con riêng nên có nhiều điểm trái ngược. Khi sống chung vợ chồng làm chăn nuôi, hai bên đã ly thân từ tháng 7 năm 2022. Nay anh D, chị T ly hôn là việc của anh chị, ông bà không quyết định.
Về tài sản chung: Đối với thửa đất 188, tờ bản đồ số 2, ông bà xác định không mua bán gì với anh chị T, anh D, đó vẫn là tài sản của ông bà, chỉ cho anh D, chị T sử dụng ½ diện tích đất.
Đối với diện tích 2,5 sào đất mua của nhà N – T, H – T2, M – Bể phần đất mua là liền với đất của ông bà mua từ trước thuộc địa phận xóm T, xã X, huyện P, tổng diện tích khoảng 4.900 m2. Nợ chung thì ông bà không nắm rõ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đặng Xuân C trình bày: Năm 2019 anh có cho chị T, anh D vay số tiền 50.000.000 đồng, bảo là vay để làm ăn chăn nuôi, do là chị gái nên hai bên không viết giấy tờ gì. Đến hạn cũng đã lâu, nay chị T làm thủ tục ly hôn anh D, anh đề nghị Tòa án giải quyết buộc vợ chồng chị T phải trả anh số tiền vay 50 triệu đồng, ngoài ra không yêu cầu gì thêm. Do nhà ở xa, bận nhiều công việc, anh C xin vắng mặt tại các phiên họp, phiên hòa giải và các phiên tòa xét xử tại Tòa án.
Ngày 20/02/2024, Tòa án có làm việc với anh Dương Văn T3 và chị Dương Thị H1, anh chị trình bày: Khoảng năm 2019-2020 anh chị có bán đất bồi bên Sông C thuộc xóm T, xã X cho chị T, anh D (chị T đứng ra làm thủ tục mua bán) với giá 2.000.000 đồng, chiều ngang 1,8 mét, đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất là do xóm chia theo khẩu, không biết rõ diện tích là bao nhiêu. Việc mua bán đã xong, hiện nay chúng tôi không còn liên quan.
Ông Trần Trọng T4 trình bày: Khoảng năm 2019-2020 tôi có bán đất bồi bên Sông C thuộc xóm T, xã X cho chị T, anh D chiều rộng khoảng 3 mét, diện tích khoảng bao nhiêu tôi không rõ vì trước kia hợp tác xã chia theo khẩu, giá bán lúc đó khoảng 02 đến 03 triệu đồng. Việc mua bán đã xong, hiện nay tôi không còn liên quan.
Ngày 20/02/2024, Tòa án có làm việc với ông Dương Từ B, ông trình bày: Khoảng năm 2019-2020, do anh D có đặt vấn đề mua đất bồi bên Sông C thuộc xóm T, xã X với ông, diện tích khoảng 240 m², giá khoảng 3.000.000 đồng, tôi không nhớ rõ lắm, đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất là do xóm chia theo khẩu, không biết rõ diện tích là bao nhiêu. Nhà anh D, chị T là mua đất của 03 nhà T4 – Nũa; H1 – T3 và M – Bể là có đất giáp nhau. Việc mua bán đã xong, hiện nay chúng tôi không còn liên quan.
Ngày 15/01/2024, chị T có nộp cho Tòa án 01 sổ giao dịch tiền vay của Ngân hàng N1 chi nhánh huyện P đã xác nhận đến ngày 14/01/2024, khoản vay của anh D, chị T có số dư nợ là 0 đồng.
Ngày 14/8/2023 và ngày 30/8/2023, Tòa án tiến hành xem xét thẩm định, 03 thửa đất đang tranh chấp như sau:
Thửa đất 70m² tại xã Ú huyện P, tỉnh Thái Nguyên đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 794614 mang tên Dương Văn D và Đặng Thị Hoài T. Trên đất có nhà xây kiên cố. Do gia đình anh D không hợp tác nên Tòa án không thẩm định được nhà, chỉ thẩm định đất trên cơ sở sổ đỏ.
Đối với thửa đất 188, tờ bản đồ số 2 (nay là thửa 29, tờ bản đồ số 10) bản đồ địa chính xã Ú, thuộc đất vườn. đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên đất hiện đang trồng cỏ, đất có ranh giới rõ ràng, không tranh chấp với ai.
Đối với diện tích 2,5 sào đất (840 m²) mua của nhà N – T, H1 – T3, M – Bể là thửa đất 17, tờ bản đồ số 7 bản đồ địa chính xã X thuộc xóm T, xã X, huyện P. đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên đất hiện đang trồng chuối, đất đang liền thửa, không tranh chấp với ai.
Ngày 06/12/2023, Tòa án tiến hành định giá tài sản trên đất như sau:
Thửa đất 70m² tại xã Ú huyện P, tỉnh Thái Nguyên đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 794614 mang tên Dương Văn D và Đặng Thị Hoài T. Trên đất có nhà xây kiên cố. Do gia đình anh D không hợp tác nên Tòa án không định giá được nhà, chỉ định giá đất, là đất ở tại nông thôn có giá 2.000.000 đ/m2.
Đối với thửa đất 188, tờ bản đồ số 2 (nay là thửa 29, tờ bản đồ số 10) bản đồ địa chính xã Ú; Đối với diện tích 2,5 sào đất (840 m²) mua của nhà N – T, H1 – T3, M – Bể là thửa đất 17, tờ bản đồ số 7 bản đồ địa chính xã X đều thuộc đất vườn có giá 65.000 đ/ m²;
Đối với bị đơn là anh Dương Văn D, bà Dương Thị T1 và ông Dương Văn D1: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án đối với anh D, ông D1, bà T1 thông báo về việc thụ lý vụ án để đến Tòa án viết bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng anh D, ông D1, bà T1 đều vắng mặt không có lý do, không hợp tác làm việc.
Trong quá trình giải quyết vụ án, do anh D, bà T1, ông D1 không đến Tòa án làm việc, vắng mặt tại các buổi thẩm định, định giá tài sản. Do anh D, ông D1, bà T1 vắng mặt tại Tòa án không có lý do nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai.
Tại phiên tòa, chị T giữ nguyên quan điểm xin ly hôn anh D. Con chung: không có; tài sản chung, nợ chung và khoản cho vay đề nghị giải quyết theo thỏa thuận của vợ chồng đã lập và chia làm 2 phần.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và hội đồng xét xử: Trong thời hạn chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 BLTTDS; Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn không chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Hoài T, cho chị T được ly hôn anh Dương Văn D.
- - Về con chung: không có nên HĐXX không xem xét giải quyết
- - Về tài sản chung: Giao cho chị T quản lý, sử dụng ½ mảnh đất mua của bố mẹ chồng năm 2018 diện tích là 195m² đất tại thửa đất 188, tờ bản đồ số 2 (nay là thửa 29, tờ bản đồ số 10) bản đồ địa chính xã Ú trị giá 107.000.000đ và trả khoản nợ cho anh C là 50.000.000₫.
- Giao cho anh Dương Văn D sở hữu và sử dụng: Lò ấp trứng: 30.000.000 đồng; Nhà cửa đã sửa chữa hết số tiền: 30.000.000 đồng; Trang trại nuôi vịt: 50.000.000 đồng; L ấp điện nước: 20.000.000 đồng; Tiền mặt nơi giao hàng đang nợ: 20.000.000 đồng; Trị giá số trứng đang ấp khi chị T đi là: 50.000.000 đồng; 1.600 con vịt đang đẻ: 100.000.000 đồng, 50 bao cám vịt đẻ: 20.000.000 đồng; 2,5 sào đất màu (tương đương 840 m²): 15.000.000đ. Tổng trị giá tài sản bằng tiền là 335.000.000đ. Anh D phải chịu trách nhiệm với số tiền 150.000.000 đồng vay của Ngân hàng A1 chi nhánh P (anh D đã thanh toán xong); Sử dụng thửa đất 70m² tại xã Ú huyện P, tỉnh Thái Nguyên đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 794614 mang tên Dương Văn D và Đặng Thị Hoài T, trên đất có nhà xây kiên cố và trích chia cho chị T số tiền chênh lệch khi phân chia tài sản bằng hiện vật là: 110.000.000đ.
- 5. Về chi phí tố tụng khác: do chị T đã tạm ứng nộp toàn bộ số tiền 7.000.000 đồng nên được trừ vào số tiền đã tạm nộp, anh D phải có nghĩa vụ hoàn trả số tiền 3.500.000 đồng chi phí nêu trên cho chị T theo quy định.
- 6. Về án phí: Chị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước. Chị T, anh D phải nộp án phí DSST nộp ngân sách nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra, công bố công khai tại phiên tòa, nghe ý kiến trình bày của các đương sự, của vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án ly hôn mà bị đơn cư trú tại xã Ú, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự tranh chấp này thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Về sự có mặt của đương sự: Đối với bị đơn và người có quyền lợi liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa xét xử vắng mặt đối với những người này.
[2]. Về nội dung: Chị Đặng Thị Hoài T và anh Dương Văn D kết hôn năm 2017 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật trên cơ sở tự nguyện. Do đó xác định quan hệ hôn nhân giữa các đương sự là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, sau 4 năm chung sống vợ chồng không có con chung, cả hai bên đều có con riêng dẫn đến việc hai bên sống ly thân, chị T xác định tình cảm không còn nên xin ly hôn với anh D.
Hội đồng xét xử xét thấy giữa chị T và anh D do quan điểm sống không phù hợp, vợ chồng không còn tin tưởng nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, cả hai bên đã sống ly thân hoàn toàn nên cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị T, cho chị T được ly hôn với anh Dương Văn D là phù hợp thực tế và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: không có.
Về tài sản chung: Do trước khi ly thân, ngày 18/10/2021 chị T và anh D đã có đơn đề nghị Ủy ban nhân dân xã Ú, huyện P xác nhận khối tài sản chung của vợ chồng do anh D trực tiêp quản lý bao gồm: Lò ấp trứng: 30.000.000 đồng; Mua sắm vật dụng sửa chữa nhà cửa : 30.000.000 đồng; Đầu tư trang trại nuôi vịt: 50.000.000 đồng; Đầu tư xây lò ấp điện nước: 20.000.000 đồng; Tiền mặt nơi giao hàng đang nợ: 20.000.000 đồng; Số trứng hiện còn trong lò đang ấp: 50.000.000 đồng; 1.600 con vịt đang đẻ: 100.000.000 đồng; 50 bao cám vịt đẻ: 20.000.000 đồng; Hai hợp đồng bảo hiểm nhân thọ: 50.000.000 đồng; ½ mảnh đất mua của bố mẹ chồng năm 2018: 107.000.000 đồng; 2,5 sào đất màu: 15.000.000 đồng.
Về nợ chung: hai bên nợ Ngân hàng A1 chi nhánh P: 150.000.000 đồng (Nay ngân hàng cung cấp tài liệu khoản nợ này đã tất toán); Nợ anh Đặng Xuân C: 50.000.000 đồng.
Xét đây là khối tài sản và nợ hình thành trong thời kỳ hôn nhân, đã được hai bên thừa nhận và có xác nhận của cấp có thẩm quyền, tuy đến nay khoản nợ ngân hàng đã tất toán (chị T xác định không được trả khoản nợ này) nhưng xác định đây là khối tài sản chung và nợ chung của anh D và chị T và được phân chia khi vợ chồng ly hôn nhau theo quy định tại Điều 33, Điều 37, Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình.
Thửa đất 70m² tại xã Ú huyện P, tỉnh Thái Nguyên đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 794614 mang tên Dương Văn D và Đặng Thị Hoài T, trên đất có nhà xây kiên cố. Xét đây là tài sản chung của vợ chồng nhưng nguồn gốc là của bố mẹ anh D tặng cho hai vợ chồng nên khi phân chia tài sản chung phải xét đến nguồn gốc tài sản nên trích chia cho chị T 1/3 trị giá thửa đất trên. Chị T không yêu cầu chia trị giá tài sản trên đất nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với việc phân chia tài sản chung: Tổng số tài sản của hai vợ chồng có trong thỏa thuận trị giá 442.000.000đ, được trừ đi 200.000.000đ tiền nợ, phần của mỗi bên còn được hưởng là 121.000.000đ được phân chia bằng hiện vật như sau:
Giao cho chị T quản lý, sử dụng đất mua của bố mẹ chồng năm 2018 diện tích là 195m² đất tại thửa đất 188, tờ bản đồ số 2 (nay là thửa 29, tờ bản đồ số 10) bản đồ địa chính xã Ú và trả khoản nợ cho anh C là 50.000.000đ.
Giao cho anh D sở hữu và sử dụng: Lò ấp trứng: 30.000.000 đồng; Nhà cửa đã sửa chữa hết số tiền: 30.000.000 đồng; Trang trại nuôi vịt: 50.000.000 đồng; L ấp điện nước: 20.000.000 đồng; Tiền mặt nơi giao hàng đang nợ: 20.000.000 đồng; Trị giá số trứng đang ấp khi chị T đi là: 50.000.000 đồng; 1.600 con vịt đang đẻ: 100.000.000 đồng, 50 bao cám vịt đẻ: 20.000.000 đồng; 2,5 sào đất màu (tương đương 840m²): 15.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bằng tiền là 335.000.000 đồng. Anh D chịu trách nhiệm về số tiền 150.000.000 đồng vay của Ngân hàng A1 chi nhánh P và trích chia cho chị T số tiền chênh lệch khi phân chia tài sản bằng hiện vật là 64.000.000₫.
Giao cho anh D sử dụng thửa đất 70m² tại xã Ú huyện P, tỉnh Thái Nguyên đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 794614 mang tên Dương Văn D và Đặng Thị Hoài T, trên đất có nhà xây kiên cố và có trách nhiệm trích chia cho chị T số tiền 46.000.000đ. Như vậy tổng cộng anh D phải trích chia cho chị T số tiền 110.000.000đ (một trăm mười triệu đồng).
Số tiền mua 02 sổ bảo hiểm cho hai vợ chồng, theo chị T khai hiện sổ của ai người đó quản lý và chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về nội dung này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về chi phí tố tụng khác: Các bên đương sự phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 157 và khoản 2 Điều 165 của BLTTDS, do chị T đã tạm ứng nộp toàn bộ số tiền 7.000.000 đồng nên được trừ vào số tiền đã tạm nộp, anh D phải có nghĩa vụ hoàn trả số tiền 3.500.000 đồng chi phí nêu trên cho chị T theo quy định.
[4] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là có căn cứ phù hợp với các quy định của pháp luật cần chấp nhận.
[5]. Về án phí: Chị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định. Đối với án phí dân sự sơ thẩm. Xét phần tài sản của chị T được hưởng trị giá là 167.000.000₫ nên chị T phải nộp án phí DSST là 8.350.000 đồng; Anh D được hưởng tài sản trị giá 215.000.000 đồng nên phải nộp án phí DSST là 10.750.000 đồng.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 143, Điều 147, Điều 227, Điều 228 BLTTDS; Điều 51, Điều 56, Điều 59, Điều 62 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Đặng Thị Hoài T, cho chị T được ly hôn anh Dương Văn D.
- Về con chung: không có.
- Về tài sản chung:
Giao cho anh D sở hữu và sử dụng: Lò ấp trứng: 30.000.000 đồng; Phần nhà đã sửa chữa hết số tiền: 30.000.000 đồng; Trang trại nuôi vịt: 50.000.000 đồng; L ấp điện nước: 20.000.000 đồng; Tiền mặt nơi giao hàng đang nợ: 20.000.000 đồng; Trị giá số trứng đang ấp khi chị T đi là: 50.000.000 đồng; 1.600 con vịt đang đẻ: 100.000.000 đồng, 50 bao cám vịt đẻ: 20.000.000 đồng; 2,5 sào đất màu (tương đương 840m²) giá trị 15.000.000đ (có sơ đồ kèm theo); Thửa đất 70m² tại xã Ú huyện P, tỉnh Thái Nguyên đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 794614 mang tên Dương Văn D và Đặng Thị Hoài T, trên đất có nhà xây kiên cố.
Anh D chịu trách nhiệm với số tiền 150.000.000 đồng vay Ngân hàng A1 chi nhánh P (thời điểm năm 2021) và trích chia cho chị T số tiền chênh lệch khi phân chia tài sản bằng hiện vật là 110.000.000đ (một trăm mười triệu đồng).
Giao cho chị T quản lý, sử dụng thửa đất mua của bố mẹ chồng năm 2018 diện tích là 195m² đất tại thửa đất 188, tờ bản đồ số 2 (nay là thửa 29, tờ bản đồ số 10) bản đồ địa chính xã Ú - có sơ đồ kèm theo (vị trí ô số 1). Chị T có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; khoản tiền 110.000.000 đồng do anh D trích chia và trả khoản nợ cho anh Đặng Xuân C là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Anh D phải có nghĩa vụ hoàn trả cho chị T số tiền 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).
- Về án phí: Chị Đặng Thị Hoài T phải chịu án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) nộp sung quỹ nhà nước, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ - Biên số 0003000 ngày 11 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Chị T phải chịu 8.350.000 đ (tám triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng), anh D phải chịu 10.750.000 đ (mười triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
5. Thông báo quyền kháng cáo: Án xét xử công khai, có mặt nguyên đơn; vắng mặt bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Báo cho những người này biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên bản án đối với người có mặt; kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với người vắng mặt./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN HỒNG MÂY |
Đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thì tên của ai người đó đã cầm và đóng hàng năm nên chị T không yêu cầu giải quyết, còn lại tổng giá trị tài sản chung là 442.000.000 đồng, chị Thương yêu c chia làm 2 phần, mỗi phần là 221.000.000 đồng. Xét thấy thỏa thuận của chị T, anh D là tự nguyện, anh D đã ký xác nhận số tài sản và số nợ trên. Do anh D hiện đang chăn nuôi ổn định nên cần chấp nhận giao cho anh D khối tài sản chung là: Lò ấp trứng; Mua sắm vật dụng sửa chữa nhà cửa; Đầu tư trang trại nuôi vịt; Đầu tư xây lò ấp điện nước; Tiền mặt nơi giao hàng đang nợ; Số trứng hiện còn trong lò đang ấp; 1.600 con vịt đang đẻ; 50 bao cám vịt đẻ; 2,5 sào đất màu tại xóm T, xã X, huyện P. Tổng giá trị tài sản là 335.000.000 đồng.
Bản án số 16/2024/HNGĐ - ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn
- Số bản án: 16/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Đặng Thị Hoài Thương, cho chị Thương được ly hôn anh Dương Văn Dược
