Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẢO THẮNG

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HS-ST

Ngày 15 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Như Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tuấn Thịnh

Ông Nguyễn Viết Khoản

- Thư ký phiên tòa: Ông Chu Quyết Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Mai Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai và điểm cầu thành phần nhà tạm giữ công an huyện B, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2024/TLST - HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Phạm Văn N (Tên gọi khác: Không) Sinh ngày: 22/3/1981 tại huyện V, tỉnh Lào Cai;

Nơi cư trú: Thôn É, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai;

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Xuân N1 và bà: Lương Thị V.

Vợ: Hoàng Thị T; Sinh năm: 1981; Trú tại: Thôn É, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai.

Bị cáo có 02 con; Con lớn sinh năm: 2002; Con nhỏ sinh năm 2003.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 17/02/2024, tạm giam từ ngày 23/02/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Lào Cai - Cótại phiên tòa, điểm cầu thành phần nhà tạm giữ công an huyện B, tỉnh Lào Cai.

2. Lương Văn D (Tên gọi khác: Không) Sinh ngày: 25/8/1992 tại huyện V, tỉnh Lào Cai;

Nơi cư trú: Thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai;

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lương Văn Ứ và bà: Nguyễn Thị Đ. Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án. Năm 2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 01 (Một) năm 09 (C) tháng tù về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo bản án số 238/2021/HS - ST ngày 10/9/2021. Đến ngày 06/01/2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Tính đến thời điểm phạm tội lần này bị cáo chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 17/02/2024, tạm giam từ ngày 23/02/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Lào Cai - Cótại phiên tòa, điểm cầu thành phần nhà tạm giữ công an huyện B, tỉnh Lào Cai.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lương Văn Ứ - Sinh năm: 1964 và bà Nguyễn Thị Đ - Sinh năm: 1964.

    Cùng địa chỉ: Thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt tại phiên tòa (Đã có đơn xin xét xử vắng mặt).

  2. Chị Hoàng Thị T - Sinh năm: 1981.

    Địa chỉ: Thôn É, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai - Có mặt tại điểm cầu trung tâm.

Những người chứng kiến:

Anh Hoàng Văn C1 - Vắng mặt, anh Nguyễn Ngọc H, anh Nguyễn Văn D1 - Đều có mặt tại điểm cầu trung tâm.

Tại điểm cầu thành phần nhà tạm giữ công an huyện B những người tiến hành tố tụng gồm có: Bà Hà Thị Thanh T1 - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác ông Phan Văn V1 - Chiến sỹ công an huyện B, tỉnh Lào Cai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 16/02/2024, Phạm Văn N một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24V1-223.74 của Phạm Văn N từ nhà đến khu vực đường Q để tìm mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời. Khi đến nơi Phạm Văn N gặp một người đàn ông không quen biết giống người nghiện nên bị cáo hỏi mua ma túy. Qua trao đổi Phạm Văn N mua được của người nam giới này 02 gói nhỏ ma túy Heroine với giá 400.000đ. Sau khi mua được ma túy Phạm Văn N điều khiển xe về nhà, trên đường đi Phạm Văn N đã sử dụng 01 gói nhỏ ma túy, còn lại 01 gói nhỏ ma túy mua được bị cáo cất dấu trong túi quần bên trái đang mặc. Đến khoản 20 giờ 52 phút ngày 16/02/2024 Lương Văn D là người trú tại Thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai sử dụng điện thoại từ số thuê bao 0347355747 của Lương Văn D gọi đến số thuê bao 0343371114 của Phạm Văn N với nội dung nói với Phạm Văn N " Bán cho cháu 01 con ba trăm nghìn đồng, mang ra nhà văn hóa thôn É đưa", Phạm Văn N đồng ý. Sau đó Lương Văn D sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 24V1 - 582.01 của gia đình đến điểm hẹn. Khoảng 21 giờ cùng ngày Lương Văn D tiếp tục gọi điện thoại cho Phạm Văn N dục mang ma túy ra. Nghe điện thoại xong một mình Phạm Văn N điều khiển xe mô tô 24V1-223.74 cầm 01 gói nhỏ ma túy. Khi đến nơi Phạm Văn N đưa cho Lương Văn D 01 gói nhỏ ma túy, Lương Văn D cầm ma túy rồi đưa cho Phạm Văn N một tờ tiền loại 100.000 đồng và nói " Cho cháu nợ hai trăm" Phạm Văn N đồng ý và điều khiển xe về nhà. Sau khi nhận được ma túy Lương Văn D cho vào túi quần bên trái đang mặc và điều khiển xe đi dọc theo đường Q tìm nơi sử dụng ma túy. Trên đường đi Lương Văn D dừng xe và chia gói ma túy vừa mua được thành 03 gói nhỏ sau đó dùng giấy ăn gói cả 03 gói nhỏ ma túy vừa chia cất vào túi quần bên trái đang mặc và tiếp tục đi. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày khi đến khu vực thôn P, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai thì bị tổ công tác thuộc đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an huyện B phối hợp cùng Công an xã P kiểm tra phát hiện và bắt quả tang thu giữ và niêm phong toàn bộ vật chứng.

Ngày 17/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành khám xét khẩn cấp người và chỗ ở của Phạm Văn N tại thôn É, xã V, huyện V, tỉnh Lào Cai. Quá trình khám xét, phát hiện và thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A53 màu xanh gắn thẻ sim số 0343371114; 01 xe mô tô nhãn hiệu Hon da Wave RSX màu xám đen biển kiểm soát 24V1- 223.74; 01 đăng ký xe mô tô số 015506 mang tên Phạm Văn N; 01 áo mưa màu đen - xanh có trong cốp xe, bên trong túi áo mưa có số tiền 1.950.000đ (Một triệu, chín trăm năm mươi nghìn đồng) gồm 06 tờ mệnh giá 200.000đ, 04 tờ mệnh giá 100.000₫, 05 tờ mệnh giá 50.000đ, 04 tờ mệnh giá 20.000đ, 02 tờ mệnh giá 10.000₫ . Trong số tiền này Phạm Văn N khai có 01 tờ 100.000đ là tiền bán ma túy cho Lương Văn D.

Tại bản kết luận giám định số 83/KL-GĐMT ngày 19/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 0,131 (không phẩy một ba một) gam chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Lương Văn D ngày 16/2/2024 gửi giám định là loại chất ma túy Heroine. Cơ quan giám định đã trích mẫu 0,044 gam để giám định, số còn lại 0,087 gam hoàn trả lại cơ quan trưng cầu giám định. Hiện cơ quan điều tra Công an huyện B, tỉnh Lào Cai đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng để phục vụ công tác xét xử và thi hành án.

Quá trình điều tra Phạm Văn N, Lương Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Cáo trạng số 16/CT - VKSBT ngày 19/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Phạm Văn N về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Lương Văn D về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quyết định truy tố theo cáo trạng số 16/CT - VKSBT ngày 19/4/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Phạm Văn N phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; Tuyên bố bị cáo Lương Văn D phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và đề nghị:

1. Về hình phạt chính:

  • Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn N từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  • Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Văn D từ 01(Một) năm 03 (Ba) tháng đến 01(Một) năm 09 (C) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt bổ sung:

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

3. Về vật chứng của vụ án:

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu: 0,087 (không phẩy không tám bẩy) gam ma tuý Heroine, còn lại sau trích mẫu giám định cùng các mảnh giấy mầu trắng và bì thư niêm phong ban đầu gửi giám định được niêm phong trong một bì thư in sẵn của phòng K Công an tỉnh L có ghi "Vật chứng còn lại sau trích mâu giám định thu giữ trong quá trình bắt quả tang Lương Văn D ngày 16/02/2024 tại thôn P, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai" là vật chứng nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; 01 thẻ sim số 0343371114 thu giữ của Phạm Văn N và 01 thẻ sim 0347355747 thu giữ của Lương Văn D là vật chứng không còn giá trị sử dụng để tiêu hủy.

  • Áp dụng khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu: 01 điện thoại di động nhãn hiệu oppo A53 màu xanh; 01 xe mô tô nhãn hiệu Hon da Wave RSX màu xám đen biển kiểm soát 24V1 - 223.74; 01 đăng ký xe mô tô số 015506 mang tên Phạm Văn N (thu giữ của Phạm Văn N); 01điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A54 thu giữ của Lương Văn D là những vật chứng các bị cáo sử dụng làm phương tiện công cụ để thực hiện hành vi phạm tội, hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai để nộp ngân sách nhà nước.

  • Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm b khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu: 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) trong tổng số tiền 1.950.000đ (Một triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ của Phạm Văn N là số tiền do bị cáo phạm tội mà có để nộp ngân sách nhà nước.

  • Tuyên tạm giữ của Phạm Văn N 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) trong tổng số tiền 1950.000đ thu giữ của Phạm Văn N để đảm bảo thi hành án.

  • Áp dụng Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm b khoản 3 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên trả lại số tiền còn lại 1.650.000đ (Một triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng); 01 áo mưa màu xanh đen Thu giữ của phạm Văn N2, hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai cho chị Hoàng Thị T (Vợ bị cáo Phạm Văn N). Trả cho bà Nguyễn Thị Đ và ông Lương Văn Ứ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave mầu đỏ - đen BKS 24V1-582.01 Số máy: JC52E1246760; Số khung: RLHJC5266DY080082 hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

4. Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Lào Cai, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp và đúng với trình tự thủ tục tố tụng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp khách quan với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Ngày 16/02/2024, Phạm Văn N là đối tượng nghiện chất ma túy một mình điều khiển xe mô tô BKS 24V1-223.74 đến khu vực đường Q để tìm mua ma túy với mục đích về sử dụng và bán kiếm lời. Tại đây Phạm Văn N đã mua 02 gói nhỏ ma tuý Heroine với giá 400.000 đồng của một người nam giới không quen biết. Sau khi mua được ma tuý trên đường về bị cáo đã sử dụng hết 01 gói, còn lại 01 gói ma túy Phạm Văn N cất dấu trong túi quần bên trái đang mặc. Khoảng 20 giờ 52 phút ngày 16/02/2024, Lương Văn D là đối tượng nghiện ma túy điện thoại cho Phạm Văn N từ số thuê bao 0347355747 của Lương Văn D tới số thuê bao 0343371114 của Phạm Văn N nói với Phạm Văn N “Bán cho cháu một con ba trăm nghìn đồng, mang ra nhà văn hóa thôn én 2 đưa" được Phạm Văn N đồng ý. Sau khi điện thoại Lương Văn D điều khiển xe mô tô BKS 24V1-582.01 của gia đình đến điểm hẹn. Khi gặp Phạm Văn N đưa cho Lương Văn D 01 gói nhỏ ma túy gói bằng giấy bạc. Lương Văn D cầm ma túy và đưa cho Phạm Văn N 01 tờ tiền mệnh giá 100.000đ và nói "Cháu nợ hai trăm" Phạm Văn N đồng ý. Sau khi nhận được ma túy trên đường về Lương Văn D đã chia số ma túy thành 03 gói nhỏ cất vào túi quần bên trái đang mặc để sử dụng, khi đến khu vực thôn P, xã P huyện B, tỉnh Lào Cai thì bị tổ công tác thuộc đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an huyện B, tỉnh Lào Cai phát hiện, khám xét, bắt quả tang và thu giữ và niêm phong vật chứng liên quan để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản kết luận giám định số 83/KL-GĐMT ngày 19/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 0,131 (không phẩy một ba một) gam chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Lương Văn D ngày 16/02/2024 gửi giám định là loại chất ma túy Heroine.

Quá trình điều tra Phạm Văn N, Lương Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Phạm Văn N đã mua và bán 0,131 gam Heroine cho Lương Văn D với mục đích bán để kiếm lời. Lương Văn D mua số ma túy trên của Phạm Văn N với mục đích để sử dụng cho bản thân. Do vậy Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Phạm Văn N về tội " Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự và truy tố Lương Văn D về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự như bản cáo trạng và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương. Xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy được pháp luật bảo vệ. Mặt khác các bị cáo đều là đối tượng nghiện chất ma túy.

Trong vụ án này đối với bị cáo Lương Văn D là đối tượng đã từng bị kết án 01 (Một) năm 09 (C) tháng tù về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo bản án số 238/2021/HS - ST ngày 10/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Đến ngày 06/01/2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Tính đến thời điểm phạm tội lần này bị cáo chưa được xóa án tích.Sau khi chấp hành xong hình phạt tù tái hòa nhập cộng đồng trở về địa phương bản thân bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện trở thành người có ích cho xã hội và gia đình mà bị cáo tiếp tục tái nghiện và đã thực hiện hành vi tàng trữ 0,131 gam Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Do vậy lần phạm tội này bị cáo Lương Văn D phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết tăng năng là "Tái phạm" được quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Do vậy đối với các bị cáo cần phải xử lý thật nghiêm minh và lên một mức hình phạt tương xứng với hành vi mức độ phạm tội của từng bị cáo như Hội đồng xét xử đã phân tích đánh giá ở trên và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới đủ điều kiện để giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Văn N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Bị cáo Lương Văn D có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là "Tái phạm" theo quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều có chung 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự đó là " Thành khẩn khai báo". Đối với bị cáo Phạm Văn N còn có thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là bị cáo có bố đẻ là ông Phạm Văn N3 được Nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước. Do vậy khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần cân nhắc xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thể hiện tính khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta.

[5]. Liên quan trong vụ án này còn có người đàn ông mà bị cáo Phạm Văn N khai đã bán ma túy cho bị cáo tại khu vực đường Q. Quá trình điều tra do không xác định được tên tuổi địa chỉ của người này. Nên không đủ căn cứ để xử lý. Viện kiểm sát không đề cập xử lý. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7]. Về vật chứng của vụ án: Đối với 0,087 (Không phẩy không tám bẩy) gam ma tuý Heroine, còn lại sau trích mẫu giám định cùng các mảnh giấy mầu trắng và bì thư niêm phong ban đầu gửi giám định được niêm phong trong một bì thư in sẵn của phòng K Công an tỉnh L có ghi "Vật chứng còn lại sau trích mâu giám định thu giữ trong quá trình bắt quả tang Lương Văn D ngày 16/02/2024 tại thôn P, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai"; 01 thẻ sim số 0343371114 thu giữ của Phạm Văn N và 01 thẻ sim 0347355747 thu giữ của Lương Văn D hiện đang lưu giữ tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Xác định đây là những vật chứng nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; Vật chứng không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử cần áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu để tiêu hủy.

  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A53 màu xanh; 01 xe mô tô nhãn hiệu Hon da Wave RSX màu xám - đen biển kiểm soát 24V1223.74; 01 đăng ký xe mô tô số 015506 mang tên Phạm Văn N (Thu giữ của Phạm Văn N); 01điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A54 (Thu giữ của Lương Văn D). Quá trình điều tra đã xác định đây là những vật chứng các bị cáo sử dụng làm phương tiện công cụ để thực hiện hành vi phạm tội, hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Do vậy Hội đồng xét xử cần áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

  • Đối với số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) trong tổng số tiền 1.950.000₫ (Một triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ của Phạm Văn N. Hiện đã chuyển đến chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Quá trình điều tra xác định đây là số tiền do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mà có. Nên Hội đồng xét xử cần áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm b khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

  • Đối với số tiền còn lại 1.850.000đ (Một triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng); 01 áo mưa màu xanh - đen Thu giữ của phạm Văn N2, hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản chung của bị cáo và chị Hoàng Thị T (Vợ bị cáo Hoàng Văn N4) không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử cần tuyên tạm giữ 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) trong tổng số tiền 1.850.000đ thu giữ của Phạm Văn N để đảm bảo thi hành án về khoản tiền án phí. Số tiền còn lại 1.650.000đ và chiếc áo mưa Hội đồng xét xử cần áp dụng khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm b khoản 3 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên trả lại cho chị Hoàng Thị T.

  • Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave mầu đỏ - đen BKS 24V1 - 582.01 Số máy: JC52E1246760; Số khung: RLHJC5266DY080082 hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Quá trình điều tra xác định chiếc xe này là tài sản chung của vợ chồng ông Lương Văn Ứ và bà Nguyễn Thị Đ. Khi bị cáo Lương Văn D sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội ông bà không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo. Do vậy Hội đồng xét xử cần áp dụng khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm b khoản 3 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên trả lại cho ông Lương Văn Ứ và bà Nguyễn Thị Đ chiếc xe mô tô nói trên là có căn cứ phù hợp với các quy định của pháp luật.

[8]. Về án phí: Các bị cáo Phạm Văn N, Lương Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình phạt:

  • Căn cứ vào Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Phạm Văn N 02 (H1) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 17/02/2024.

  • Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Lương Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Lương Văn D 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 17/02/2024.

2. Về vật chứng:

Căn cứ vào điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a, b, c Khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu:

  • 0,087 (Không phẩy không tám bẩy) gam ma tuý Heroine, còn lại sau trích mẫu giám định cùng các mảnh giấy mầu trắng và bì thư niêm phong ban đầu gửi giám định được niêm phong trong một bì thư in sẵn của phòng K Công an tỉnh L có ghi "Vật chứng còn lại sau trích mâu giám định thu giữ trong quá trình bắt quả tang Lương Văn D ngày 16/02/2024 tại thôn P, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai"; 01 thẻ sim số 0343371114 thu giữ của Phạm Văn N và 01 thẻ sim 0347355747 thu giữ của Lương Văn D. Hiện đang lưu giữ tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai để tiêu hủy.

  • Tuyên tịch thu: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A53 màu xanh; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu xám - đen biển kiểm soát 24V1- 223.74; 01 đăng ký xe mô tô số 015506 mang tên Phạm Văn N (Thu giữ của Phạm Văn N); 01điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A54 (Thu giữ của Lương Văn D). Hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai để nộp ngân sách nhà nước.

  • Tuyên tịch thu: số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) trong tổng số tiền 1.950.000đ (Một triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ của Phạm Văn N. Hiện đã chuyển đến chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai để nộp ngân sách nhà nước.

  • Tuyên tạm giữ 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) trong tổng số tiền 1.950.000đ (Một triệu, chín trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ của Phạm Văn N để đảm bảo thi hành án.

* Căn cứ vào điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm b khoản 3 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  • Tuyên trả lại số tiền 1.650.000₫ ( Một triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng) trong tổng số tiền 1.950.000 (Một triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) và 01 áo mưa màu xanh - Đen thu giữ của Phạm Văn N hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai cho chị Hoàng Thị T.

  • Tuyên trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave mầu đỏ - đen BKS 24V1 - 582.01; Số máy: JC52E1246760; Số khung: RLHJC5266DY080082 thu giữ của Lương Văn D hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai cho ông Lương Văn Ứ và bà Nguyễn Thị Đ.

3. Về án phí:

Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu phí, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Phạm Văn N, Lương Văn D mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai trực tuyến sơ thẩm có mặt các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị T; Vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lương Văn Ứ và bà Nguyễn Thị Đ. Báo cho các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lương Văn Ứ và bà Nguyễn Thị Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND Bảo Thắng;
  • - Công an Bảo Thắng(04);
  • - Cơ quan THAHS công an tỉnh Lào Cai(02);
  • - Sở tư pháp tỉnh Lào Cai;
  • - Thi hành án hình sự, dân sự (6);
  • - Bị cáo(02);
  • - Người có QLNVLQ(03);
  • - Lưu HS, TA, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Như Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI về hình sự (vụ án mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 16/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vụ án Mua bán và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên phạt Phạm Văn N 02 (hai năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và tuyên phạt Lương Văn D 01 năm 03 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger