TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ - TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2024/HS - ST Ngày: 14/05/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ - TỈNH NINH BÌNH.
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Toan, bà Trần Thị Mão
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Huệ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô tham gia phiên toà: Bà Đào Thị Ngoan- Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 17/2024/TLST - HS, ngày 15 tháng 04 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 05 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Văn C, sinh năm: 1984, tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: xóm A, xã Y, Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị T1; vợ Vũ Thị P và 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 16/4/2019, bị Công an xã Đ, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”; bị cáo là đảng viên Đ2 đang bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 88-QĐ/UBKTTU ngày 24/4/2024 của Ủy ban Kiểm tra Thành ủy T4, tỉnh Ninh Bình).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt). - Mai Văn Đ, sinh năm: 1974, tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Xóm A, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn K và bà Phạm Thị D; vợ Phạm Thanh N và 02 con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt). - Vũ Văn K1, sinh năm: 1973, tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Xóm A, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn Đ1 và bà Mai Thị T2; vợ Mai Thị T3 và 02 con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).
- Vũ Văn N1, sinh năm: 1989, tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Xóm A, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn L và bà Mai Thị C1; vợ Ngô Phương H và 02 con; tiền án: Ngày 10/9/2021 bị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xử phạt 18 tháng tù, phạt bổ sung 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 30/01/2015, bị Công an phường T, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Ninh Bình xử phạt “Cảnh cáo” về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 29/01/2015 bị Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 26/3/2016 bị Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 12/02/2024 Nguyễn Văn C, sinh năm 1984, Mai Văn Đ sinh năm 1974; Vũ Văn K1, sinh năm 1973 và Vũ Văn N1, sinh năm 1989 đều trú tại xóm A, xã Y, huyện Y đến nhà ông Vũ Văn V, sinh năm 1976 cùng trú tại xóm A, xã Y, huyện Y chơi, chúc tết. Khoảng 21 giờ 30 phút sau khi ngồi chơi uống nước,ông V nói với tất cả mọi người “anh em cứ ngồi chơi uống nước, tôi sang đây chúc tết, lát tôi về”, sau khi ông V ra khỏi nhà thì C rủ mọi người chơi đánh bạc bằng hình thức chơi “Liêng” tất cả đều đồng ý, sau đó cả bốn người ngồi quây tròn trên nền bếp, C lấy trong túi áo khoác bên trái của mình đang mặc ra bộ bài, quy định mức sát phạt, “ gà” 10.000 đồng, phạt tối đa 50.000 đồng thì tất cả cùng đồng ý tham gia và C là người chia ván bài đầu tiên cho mọi người cùng đánh bạc, cách thức chơi “Liêng” người chơi sử dụng 52 quân bài tú lơ khơ (gồm các quân A, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K) chia cho mỗi người chơi 03 quân bài, sau đó tất cả người chơi lên bài, người nào có 03 quân bài giống nhau gọi là “Sáp”, có 03 quân bài liền kề nhau gọi là “Liêng”, có 03 quân bài có J, Q hoặc K không phải “Sáp”, không phải “Liêng” gọi là “Bộ đội”. Nếu người chơi không có “Sáp”, “Liêng”, “Bộ đội” thì tính điểm trên 03 quân bài. Cách tính điểm là cộng 3 quân bài lại, 09 điểm là cao nhất, 0 điểm là thấp nhất, nếu số điểm cộng vượt quá hàng chục thì số điểm được lấy số hàng đơn vị. Quân A được tính là 1 điểm, quân 10, J, Q. K tính 0 điểm, các quân còn lại số điểm được in trên quân bài. Bài to nhất có thứ tự là “Sáp” đến “Liêng” sau đó đến “Bộ đội” cuối cùng là bài tính điểm, nếu có cùng bài “Sáp” thì người nào có quân bài cao hơn sẽ thắng, nếu có cùng “Liêng”, “Bộ đội” hoặc cùng điểm bằng nhau thì được tính theo thứ tự chất Rô, C2, N2, B người nào có quân bài cao chất cao sẽ thắng. Ai thắng sẽ chia bài ván tiếp theo. Về tiền gà và tiền phạt: mỗi ván bài
mỗi người bỏ ra 10.000 đồng đặt cửa gọi là tiền “gà”, sau đó người chơi xem bài ai chơi tiếp thì đặt thêm tiền gọi là tiền “phạt” mức đặt tiền phạt tối đa là 50.000 đồng, người nào không đặt thêm tiền thì bị thua hết số tiền đã đặt, những người đặt thêm tiền đọ bài với nhau, ai thắng thì được tất cả số tiền gồm cả tiền “gà” và tiền “phạt”. Đến 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi Đ, K1, C, Nam đang đánh bạc thì bị Công an huyện Y phát hiện bắt quả tang, lập biên bản thu giữ 52 quân bài tú lơ khơ, tổng số tiền 14.820.000 đồng, trong đó số tiền trên chiếu bạc là 8.190.000 đồng, số tiền trong người các đối tượng là 6.630.000 đồng, gồm: thu giữ của Mai Văn Đ 5.680.000 đồng (550.000 đồng trên nền nhà trước mặt, trong người 5.130.000 đồng), Vũ Văn K1 2.200.000 đồng (2.200.000 đồng trên nền nhà trước mặt, trong người 1.500.000 đồng), Nguyễn Văn C 3.870.000 đồng (3.870.000 đồng trên nền nhà trước mặt), Vũ Văn N1 3.070.000 đồng (1.570.000 đồng trên nền nhà trước mặt, tiền trong người 1500.000 đồng).
Quá trình điều tra vụ án xác định tổng số tiền Mai Văn Đ, Vũ Văn K1, Vũ Văn N1 và Nguyễn Văn C sử dụng vào mục đích đánh bạc là 14.820.000 đồng. Trong đó Mai Văn Đ sử dụng số tiền 6.830.000 đồng, khi phát hiện Đ có 5.680.000 đồng, thua 1.150.000 đồng; Vũ Văn K1 sử dụng số tiền 2.900.000 đồng, khi bị phát hiện K1 có 2.200.000 đồng, thua 700.000 đồng; Nguyễn Văn C sử dụng số tiền 2.330.000 đồng, khi bị phát hiện C có 3.870.000 đồng, thắng 1.540.000 đồng; Vũ Văn N1 sử dụng số tiền 2.760.000 đồng, khi bị phát hiện N1 có 3.070.000 đồng, thắng 310.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 19/CT- VKS ngày 15/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã truy tố các bị cáo: Nguyễn Văn C, Mai Văn Đ, Vũ Văn K1, Vũ Văn N1 về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
- Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Văn C, Mai Văn Đ, Vũ Văn K1, Vũ Văn N1 phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt:
Vũ Văn N1 từ 06 (Sáu) tháng tù đến 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000đồng, đến 15.000.000đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt:
Nguyễn Văn C từ 25.000.000đồng đến 30.000.000đồng,
Mai Văn Đ từ 23.000.000đồng đến 25.000.000đồng,
Vũ Văn K1 từ 23.000.000đồng đến 25.000.000đồng,
- Áp dụng các điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 14.820.000 đồng.
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án, nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, bào chữa và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã ra các quyết định tố tụng; thực hiện đúng, đầy đủ các hành vi tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; người tham gia tố tụng cung cấp đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi đánh bạc ngày 12/02/2024 đúng như nội dung bản cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét công khai tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 12/02/2024, tại nhà ông Vũ Văn V ở xóm A, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Văn C, Mai Văn Đ, Vũ Văn K1 và Vũ Văn N1 đã có hành vi đánh bạc “đánh liêng" với số tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 14.820.000 đồng.
Theo quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự thì.
- Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
- ...
- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử kết luận hành vi đánh bạc được thua bằng tiền của các bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo: Vũ Văn C3, Mai Văn Đ, Vũ Văn K1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Vũ Văn N1, có bố đẻ là người có công với cách mạng (được tặng thưởng Huân chương kháng chiến) nên
bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Vũ Văn C3, Mai Văn Đ, Vũ Văn K1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo Vũ Văn N1 đã bị kết án chưa được xóa án tích lại phạm tội mới do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo thấy: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tội danh, loại hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp, cần xử phạt các bị cáo loại, mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra. Trong vụ án, bị cáo Vũ Văn C3 là người khởi xướng việc đánh bạc, bị cáo Mai Văn Đ sử dụng số tiền dùng vào việc đánh bạc nhiều nhất do đó tính chất mức động nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo C3, bị cáo Đ tương đương nhau, tiếp đến là bị cáo K1 và bị cáo N1 sử dụng số tiền vào việc đánh bạc ít hơn. Xét bị cáo bị cáo Vũ Văn N1, là người đã từng bị kết án, Tòa án đã áp dụng hình hình phạt tù đối với bị cáo, chưa được xóa án tích lại tái phạm, nhân thân nhiều lần bị xử phạt hành chính cho thấy bị cáo là người khó giáo, dục cải tạo nên cần tiếp tục áp dụng hình phạt tù và phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo mới đủ điều kiện răn đe, giáo dục. Đối với các bị cáo Vũ Văn C3, Mai Văn Đ, Vũ Văn K1 phạm tội lần đầu, ít nghiêm trọng, không có tiền án, tiền sự nên chỉ cần áp dụng hình phạt ít nghiêm khắc là hình phạt tiền đối với các bị cáo là đủ điều kiện răn đe, giáo dục các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Đối với 52 quân bài tú lơ khơ là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng để phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 14.820.000đồng (Mười bố triệu, tám trăm hai mươi nghìn đồng) là tiền do các bị cáo dùng và việc phạm tội cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Vũ Văn N1, Nguyễn Văn C, Mai Văn Đ, Vũ Văn K1 phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt:
Vũ Văn N1 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đồng (Mười triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt:
Nguyễn Văn C 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước;
Mai Văn Đ 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước;
Vũ Văn K1 22.000.000 (Hai hai triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước;
- Áp dụng các điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 52 quân bài tú lơ khơ;
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 14.820.000đồng (Mười bốn triệu, tám trăm, hai mươi nghìn đồng).
(Cụ thể chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/04/2024 và Giấy ủy nhiệm chi ngày 19/04/2024 giữa Công an huyện Y và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Yên Mô).
- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án buộc các bị cáo Vũ Văn N1, Nguyễn Văn C, Mai Văn Đ, Vũ Văn K1 mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng.
Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án”.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Anh Tuấn |
Bản án số 16/2024/HS - ST ngày 14/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ - TỈNH NINH BÌNH về hình sự (tội đánh bạc)
- Số bản án: 16/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ - TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mai Văn Đ và đồng phạm phạm tội đánh bạc
