|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số:16/2024/HS- ST Ngày 13-05-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Tống Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Hồ Điền
Bà Nguyễn Thị Vân Anh
+ Tại điểm cầu trung tâm: Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh- là thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa
+ Tại điểm cầu thành phần: Bà Lê Thị Ngọc Lan - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
+ Tại điểm cầu trung tâm: Ông Đỗ Tuấn Anh, ông Nguyễn Đình Nam - Kiểm sát viên
+ Tại điểm cầu thành phần: Bà Nguyễn Thị Huấn - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa (Điểm cầu trung tâm), Công an thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa (Điểm cầu thành phần) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2024/TLST- HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST- HS ngày 02/5/2024 đối với các bị cáo:
1. Thiều Thị H; sinh ngày: 01/01/1979; tại huyện H, tỉnh T; Nơi ở hiện tại: SN 134 đường Trần Hưng Đạo, khu phố 5, phường B, thị xã B, tỉnh Th; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Thiều Văn B; Con bà: Hoàng Thị C; Chồng: Tống Văn V; con: 03 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/01/2024 đến ngày 11/01/2024, ngày 11/01/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).
2. Phạm Văn T; sinh ngày: 02/10/1981, nơi sinh thị xã B, tỉnh T; Nơi ở hiện tại: Khu phố 6, phường B, thị xã B, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn C; Con bà: Nguyễn Thị M; Vợ con: chưa; Tiền sự: không; tiền án: 01 tiền án:
1
Ngày 15/6/2021 bị Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn xử phạt 24 tháng tù về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 26/2021/HSST. Chấp hành xong ngày 18/01/2023; Nhân thân:
- + Ngày 30/11/2005 bị Công an thị xã Bỉm Sơn, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau” bằng hình thức phạt tiền.
- + Ngày 28/11/2007 bị UBND thị xã Bỉm Sơn ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng. Ngày 08/12/2009 chấp hành xong.
- + Ngày 20/12/2020 bị Công an phường Ba Đình, thị xã Bỉm Sơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” bằng hình thức phạt tiền.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/01/2024 đến ngày 11/01/2024, ngày 11/01/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa( có mặt).
* Người chứng kiến: Anh Lê Văn C, sinh năm 1962
Trú quán: Khu phố 6, phường B, thị xã B, Tỉnh T (vắng mặt).
* Người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần:
Ông Lê Văn T và ông Phạm Văn B - Cán bộ hỗ trợ tư pháp và thi hành án hình sự - Công an thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 09/01/2024, tổ công tác Công an phường Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá đang làm nhiệm vụ tại khu vực công ty HUB 4 thuộc khu phố 5, phường Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá phát hiện Phạm Văn T có biểu hiện phạm tội về ma tuý. Khi thấy lực lượng công an, Phạm Văn T thả từ lòng bàn tay trái xuống mặt đất ngay trước mũi bàn chân phải 01 (một) gói nilon màu trắng bên trong gói giấy có chứa chất bột dạng cục vụn màu trắng ngà. Tại chỗ T khai nhận gói nhỏ nêu trên là ma túy loại Heroine và hồng phiến (Methamphetamine) mà Thành vừa mua tại nhà ở của Thiều Thị H hồi 08 giờ 00 phút ngày 09/01/2024 với giá 600.000đ để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, tiến hành lập biên bản, thu giữ toàn bộ vật chứng và đưa Thành về trụ sở Công an phường Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Sau khi Thành bị bắt, khoảng 11 giờ 30 phút ngày 09/01/2024, Thiều Thị Hương đã tự nguyện đến Cơ quan công an đầu thú, giao nộp vật chứng, tài sản và khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng, tài sản gồm:
* Thu giữ của Phạm Văn Th:
- + 01 (một) gói nilon màu trắng kích thước khoảng (3x3) cm bên trong gồm: 01 (một) viên nén màu đỏ đường kính khoảng 0,5 cm và 01 (một) gói giấy nhỏ màu trắng kích thước khoảng (1,5x1,5) cm được bọc bằng giấy nilon màu trắng, bên trong gói giấy có chứa chất bột dạng cục vụn màu trắng ngà (có biên bản niêm phong kèm theo).
2
- + 04 (bốn) bơm kim tiêm loại 03ml (chưa qua sử dụng).
- + 04 (bốn) lọ nước cất nhãn hiệu NOVOCAIN 3% (chưa qua sử dụng).
- + 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu trắng, biển số: 35B1 - 592.64, đã qua sử dụng, Số khung: 183323; Số máy: 5183402.
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus màu vàng, số Seri: FD8VJ89RJCM4, bên trong có sim số: 0943.105.585 (đã qua sử dụng).
* Thu giữ của Thiều Thị H:
- + 02 (hai) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng, 02 (hai) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng; 02 (hai) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng, 08 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
- + 01 (một) điện thoại di động loại bàn phím, nhãn hiệu Nokia, màu đen bên trong có 02 sim số 0898.601.696 và 0961.967.479 (đã qua sử dụng).
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu hồng, loại màn hình cảm ứng, bên trong có sim số: 0943.413.345 (đã qua sử dụng).
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu bạc, loại màn hình cảm ứng, màn hình bị rạn nứt (đã qua sử dụng).
Tại cơ quan điều tra, căn cứ lời khai của các đối tượng và các tài liệu điều tra đã thu thập được, xác định diễn biến nội dung vụ án như sau:
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 09/01/2024, Thiều Thị H đang ở nhà thì nhận được điện thoại của Phạm Văn T số điện thoại 0943.105.xxx gọi điện thoại đến số 0898.601.xxx của H để hỏi mua 600.000 đồng ma túy gồm: 500.000 đồng loại Heroine, 100.000 đồng loại Hồng phiến (MDMA). H đồng ý và trả lời T là có đấy và dặn T đến trước cổng nhà H thì ném tiền qua khe cửa vào trong sân cho H rồi lấy ma túy trên khe cánh cửa cổng. Sau đó, T điều khiển xe máy nhãn hiệu WAVE ALPHA biển số 35B1-592.64 một mình đi từ nhà T đến nhà H. Khi đến cổng nhà H, T nhét số tiền 600.000₫ gồm 01 tờ mệnh giá 500.000₫ và 01 tờ mệnh giá 100.000₫ qua khe cổng sắt và rơi xuống mặt sân, sau đó lấy gói ma túy trên khe cửa bên phải (gân chuông cửa), cầm trong lòng bàn tay trái và điều khiển xe máy về khu vực bãi đất trống thuộc công ty HUB 4. T dừng xe và tìm nơi để sử dụng ma túy, T bỏ túi bóng màu đen bên trong có 04 bơm kim tiêm và 04 ống nước cất loại 2ml xuống dưới chân (kim tiêm và ống nước cất Thành đã mua với giá 20.000 đồng từ trước đó) T đang định sử dụng ma tuý thì bị tổ công tác Công an phường Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn phát hiện yêu cầu kiểm tra, T đã thả gói ma tuý xuống dưới đất cạnh bàn chân phải nhưng bị tổ công tác phát hiện thu giữ gói ma túy có đặc điểm: 01 (một) gói nilon màu trắng kích thước khoảng (3x3) cm bên trong gồm: 01 (một) viên nén màu đỏ đường kính khoảng 0,5 cm và 01 (một) gói giấy nhỏ màu trắng kích thước khoảng (1,5x1,5) cm được bọc bằng giấy nilon màu trắng, bên trong gói giấy có chứa chất bột dạng cục vụn màu trắng ngà. Thành khai nhận số ma túy trên mua của Thiều Thị H. Tổ công tác đã mời người chứng kiến và đưa Phạm Văn T cùng vật chứng về trụ sở Công an phường Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa để điều tra làm rõ.
3
Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, Thiều Thị Hbiết Phạm Văn T đã bị bắt nên đã đến Công an phường Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn để đầu thú về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” cho Phạm Văn T.
Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Thiều Thị H nhưng không thu giữ được đồ vật, tài sản gì.
Ngày 09/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Bỉm Sơn ra Quyết định trưng cầu giám định số 24/QĐ-ĐCSKT-MT giám định chất ma túy đối với mẫu vật cần giám định trong các phong bì niêm phong được.
Tại bản kết luận giám định số 135/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:
- + 01 (một) viên nén màu đỏ đường kính khoảng 0,5cm của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng (trọng lượng) là: 0,093 gam; là: Ma túy; loại: Methamphetamine.
- + Chất bột dạng cục vụn màu trắng ngà của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng (trọng lượng) là: 0,289 gam; là: Ma túy; loại: Heroine.
Về nguồn gốc số ma túy: Toàn bộ số ma tuý của Thiều Thị H bán cho Phạm Văn T sáng ngày 09/01/2024 theo Hương khai là của một người đàn ông tên Phương ở thành phố Hà Nội (không rõ đặc điểm nhận dạng, nhân thân như thế nào, địa chỉ ở đâu) cho H. Vì vậy, không có căn cứ để xác minh, xử lý đối với người đàn ông tên Phương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bỉm Sơn sẽ tiếp tục điều tra làm rõ nếu có căn cứ thì xử lý theo đúng quy định pháp luật.
* Xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:
- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu trắng, biển số: 35B1-592.64 là tài sản của anh Phạm Văn L (em trai Phạm Văn T) mua từ đầu năm 2022, mục đích để sử dụng sinh hoạt hằng ngày. Qua kiểm tra thấy số máy, số khung của xe không có dấu vết bị cắt, đục, sửa chữa phù hợp với kết quả tra cứu trên hệ thống đăng ký, đồng thời không phải là vật chứng của vụ án, vụ việc nào khác, có nguồn gốc rõ ràng. Bản thân anh Long không biết Tmượn xe ngày 09/01/2024 nhằm mục đích gì nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh Phạm Văn L. Nhận lại tài sản anh L không có ý kiến gì thêm.
* Toàn bộ số vật chứng, tài sản sau được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn để bảo quản và xử lý theo quy định của pháp luật gồm:
- - 01 (một) Phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh Tiến, Phạm Mạnh Hùng, Tống Hồng Quang và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá.
- Vật chứng, tài sản thu giữ của Thiều Thị H:
- + 01 (một) Điện thoại, loại bàn phím, vỏ màu đen, trên mày có dòng chữ NOKIA, số IMEI: 356613725483242. Bên trong máy có lắp 02 sim số 0898.601.696 và 0961.967.479 (đã qua sử dụng).
4
- + 01 (một) Điện thoại, loại màn hình cảm ứng, màn hình bị rạn nứt, trên máy có dòng chữ OPPO, số IMEI: 863897035543490. Bên trong máy không có sim số (đã qua sử dụng).
- + 01 (một) Điện thoại, loại màn hình cảm ứng, vỏ màu hồng, trên máy có dòng chữ IPHONE, số IMEI: 356773084125287. Bên trong máy có lắp sim số 0943413345 (đã qua sử dụng).
- + 02 (hai) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000đ, 02(hai) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000₫, 02(hai) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000đ, 08(tám) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000đ. Tổng là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng).
- Vật chứng, tài sản thu giữ của Phạm Văn T:
- + 01 (một) Điện thoại, loại màn hình cảm ứng, vỏ màu vàng, trên máy có dòng chữ IPHONE, số SERIAL: FD8VJ89RJCM4. Bên trong máy có lắp sim thuê bao số 0943.105.585 (đã qua sử dụng).
- + 04(bốn) Bơm kim tiêm, loại 03ml (Chưa qua sử dụng)
- + 04(bốn) Lọ nước cất, Nhãn hiệu NOVOCAIN 3% (Chưa qua sử dụng).
* Tại bản cáo trạng số: 17/CT-VKSBS ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn truy tố bị cáo Thiều Thị Hương về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự (viết tắt: BLHS); Phạm Văn T truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát duy trì công tố giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
- + Đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt: HĐXX) áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS.
- - Đề nghị xử phạt Thiều Thị H từ 24 đến 27 tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- + Đề nghị HĐXX áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS
- - Đề nghị xử phạt Phạm Văn T từ 21 đến 24 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
* Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có công ăn việc làm, điều kiện gia đình khó khăn nên đề nghị không áp dụng khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 BLHS để phạt tiền đối với các bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự (viết tắt: BLTTHS), khoản 1 Điều 47 BLHS đề nghị:
- Tịch thu tiêu huỷ:
- 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá và các chữ ký, chữ viết của Lê Minh Tiến, Phạm Văn Hùng, Tống Hồng Quang.
- + 04(bốn) Bơm kim tiêm, loại 03ml (Chưa qua sử dụng)
- + 04(bốn) Lọ nước cất, Nhãn hiệu NOVOCAIN 3% (Chưa qua sử dụng).
5
- Sung quỹ nhà nước:
- + 01 (một) Điện thoại, loại bàn phím, vỏ màu đen, trên mày có dòng chữ NOKIA, số IMEI: 356613725483242. Bên trong máy có lắp 02 sim số 0898.601.696 và 0961.967.479 (đã qua sử dụng) (của H) .
- + 01 (một) Điện thoại, loại màn hình cảm ứng, vỏ màu vàng, trên máy có dòng chữ IPHONE, số SERIAL: FD8VJ89RJCM4. Bên trong máy có lắp sim thuê bao số 0943.105.585 (đã qua sử dụng) (của T).
- + Số tiền 600.000₫ là tiền H bán ma tuý cho T.
- Trả lại tài sản gồm:
- + 01 (một) điện thoại, loại màn hình cảm ứng, màn hình bị rạn nứt, trên máy có dòng chữ OPPO, số IMEI: 863897035543490. Bên trong máy không có sim số (đã qua sử dụng) (cho H).
- + 01 (một) điện thoại, loại màn hình cảm ứng, vỏ màu hồng, trên máy có dòng chữ IPHONE, số IMEI: 356773084125287. Bên trong máy có lắp sim số 0943413345 (đã qua sử dụng) (cho H).
- + 1.400.000đ (một triệu, bốn trăm nghìn đồng) cho Hương.
Căn cứ vào chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan toàn diện chứng cứ, ý kiến phát biểu của kiểm sát viên và các bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Hương, Thành đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ. Vì vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 08 giờ ngày 09/01/2024 tại số nhà 134 đường T, khu phố 5, phường B, thị xã B, tỉnh T, Thiều Thị H đã bán trái phép chất ma túy cho Phạm Văn T lấy 600.000 đồng với tổng trọng lượng 0,382 gam ma túy gồm: 0,093 gam ma túy loại Methamphetamine và 0,289 gam ma túy loại Heroine.
Đối với Phạm Văn T có hành vi tàng trữ 0,382 gam ma túy nêu trên nhằm mục đích sử dụng.
6
Hành vi của bị cáo Thiều Thị H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS và hành vi của bị cáo Phạm Văn Tđã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS.
[3] Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma tuý của các bị cáo không những xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà còn gây hậu quả rất nguy hiểm cho xã hội. Bởi ma túy là một loại chất gây nghiện, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, nòi giống, nhân cách, đạo đức và lối sống của con người. Ma túy chính là nguồn gốc để các loại tội phạm khác phát triển. Nhà nước đã nghiêm cấm mọi hành vi liên quan đến ma túy và pháp luật quy định xử lý rất nghiêm minh đối với loại tội phạm này. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
[4] Xét nhân thân của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (viết tắt: TNHS)
[4.1] Bị cáo Phạm Văn T có nhân thân xấu từng bị xử phạt hành chính về hành vi đánh nhau, đã áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Ngày 15/6/2021 bị Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn xử phạt 24 tháng tù về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” ngày 18/01/2023 chấp hành xong bản án trở về địa phương, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tự rèn luyện bản thân trở thành công dân tốt mà lại tiếp tục có hành vi phạm tội. Điều này thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo.
[4.2] Về tính tiết tăng nặng TNHS: Hành vi phạm tội của bị cáo Tcó tính chất tái phạm, là tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS; bị cáo Hương không có tình tiết tăng nặng TNHS.
[4.3] Về tính tiết giảm nhẹ TNHS: HĐXX thấy sau khi phạm tội, quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo H sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đầu thú, bị cáo tự nguyên giao nộp số tiền 600.000₫ (là tiền bán ma tuý cho T), bị cáo có bố mẹ chồng được ban thường vụ tỉnh hội cựu Thanh niên xung phong Thanh Hoá chứng nhận đã hoàn thành nhiệm vụ thanh niên xung phong phục vụ kháng chiến nên đây là các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS đối với H. Vì vậy, khi lượng hình cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có công ăn việc làm, điều kiện gia đình khó khăn nên không áp dụng khoản 5 Điều 149 và khoản 5 Điều 251 BLHS để phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS, khoản 1 Điều 47 BLHS:
7
- Tịch thu tiêu huỷ:
- + 01 (một) Phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh Tiến, Phạm Mạnh Hùng, Tống Hồng Quang và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá.
- + 04(bốn) Bơm kim tiêm, loại 03ml (Chưa qua sử dụng)
- + 04(bốn) Lọ nước cất, Nhãn hiệu NOVOCAIN 3% (Chưa qua sử dụng).
- Sung quỹ nhà nước:
- + 01 (một) Điện thoại di động ghi chữ NOKIA, số IMEI: 356613725483242 (của Hương).
- + 01 (một) Điện thoại di động ghi chữ Iphone, màu hồng loại màn hình cảm ứng, đã cũ, không kiểm tra chất lượng bên trong; số, loại màn hình cảm ứng, vỏ màu vàng, trên máy có dòng chữ IPHONE, sô SERIAL: FD8VJ89RJCM4 (của T)
- + Số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) (của H)
- Trả lại tài sản cho bị cáo H gồm:
- + 01 (một) Điện thoại di động ghi chữ OPPO màu hồng loại màn hình cảm ứng, màn hình bị vỡ nát, đã cũ không kiểm tra chất lượng bên trong, số IMEI: 863897035543490.
- + 01 (một) Điện thoại di động ghi chữ IPHONE, màu hồng, loại màn hình cảm ứng, đã cũ không kiểm tra chất lượng bên trong; số IMEI: 356773084125287.
- + Tiền Việt Nam đồng: 1.400.000đ (đã chuyển vào TK 3949 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn).
[7] Án phí HSST các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- * Căn cứ: Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự (đối với Hương);
- * Tuyên bố: Bị cáo Thiều Thị H phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”
- - Xử phạt: Thiều Thị H 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 09/01/2024.
- * Căn cứ: Điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự (đối với Thành);
- * Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- - Xử phạt: Phạm Văn T 23 (hai mươi ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 09/01/2024.
- * Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự:
- - Tịch thu tiêu huỷ:
8
- - 01 (một) Phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá phát hành, được dán kín bên trong có tổng khối lượng 0,073 g chất bột màu đỏ; 0,240g chất bột dạng cục vụn màu trắng ngà (là những mẫu vật còn lại sau giám định).
- + 04(bốn) Bơm kim tiêm, loại 03ml (Chưa qua sử dụng)
- + 04(bốn) Lọ nước cất, Nhãn hiệu NOVOCAIN 3% (Chưa qua sử dụng).
- Sung quỹ nhà nước:
- + 01 (một) Điện thoại di động ghi chữ NOKIA, số IMEI: 356613725483242 (của Hương).
- + 01 (một) Điện thoại di động gi chữ Iphone, màu hồng loại màn hình cảm ứng, đã cũ, không kiểm tra chất lượng bên trong; số, loại màn hình cảm ứng, vỏ màu vàng, trên máy có dòng chữ IPHONE, số SERIAL: FD8VJ89RJCM4 (của T)
- + Số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) (của H)
- Trả lại tài sản cho bị cáo H gồm:
- + 01 (một) Điện thoại di động ghi chữ OPPO màu hồng loại màn hình cảm ứng, màn hình bị vỡ nát, đã cũ không kiểm tra chất lượng bên trong, số IMEI: 863897035543490.
- + 01 (một) Điện thoại di động ghi chữ IPHONE, màu hồng, loại màn hình cảm ứng, đã cũ không kiểm tra chất lượng bên trong; số IMEI: 356773084125287.
- + Tiền Việt Nam đồng: 1.400.000đ (đã chuyển vào TK 3949 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn).
( Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 19/4/2024 giữa Cơ quan Công an và Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Bỉm Sơn)
Tiếp tục tạm giam bị cáo H, T45 (Bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo cho việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
* Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo buộc các bị cáo H, T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo. Các bị cáo, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (13/5/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TỐNG THỊ HÀ |
9
10
11
Bản án số 16/2024/HS- ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA về vụ án hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 16/2024/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: * Căn cứ: Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự (đối với Hương); * Tuyên bố: Bị cáo Thiều Thị H phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” - Xử phạt: Thiều Thị H 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 09/01/2024. * Căn cứ: Điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự (đối với Thành); * Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” - Xử phạt: Phạm Văn T 23 (hai mươi ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 09/01/2024. * Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: - Tịch thu tiêu huỷ: - 01 (một) Phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hoá phát hành, được dán kín bên trong có tổng khối lượng 0,073 g chất bột màu đỏ; 0,240g chất bột dạng cục vụn màu trắng ngà (là những mẫu vật còn lại sau giám định). + 04(bốn) Bơm kim tiêm, loại 03ml (Chưa qua sử dụng) + 04(bốn) Lọ nước cất, Nhãn hiệu NOVOCAIN 3% (Chưa qua sử dụng). - Sung quỹ nhà nước: + 01 (một) Điện thoại di động ghi chữ NOKIA, số IMEI: 356613725483242 (của Hương). + 01 (một) Điện thoại di động gi chữ Iphone, màu hồng loại màn hình cảm ứng, đã cũ, không kiểm tra chất lượng bên trong; số , loại màn hình cảm ứng, vỏ màu vàng, trên máy có dòng chữ IPHONE, số SERIAL: FD8VJ89RJCM4 (của T) + Số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) (của H) - Trả lại tài sản cho bị cáo H gồm: + 01 (một) Điện thoại di động ghi chữ OPPO màu hồng loại màn hình cảm ứng, màn hình bị vỡ nát, đã cũ không kiểm tra chất lượng bên trong, số IMEI: 863897035543490. + 01 (một) Điện thoại di động ghi chữ IPHONE, màu hồng, loại màn hình cảm ứng, đã cũ không kiểm tra chất lượng bên trong; số IMEI: 356773084125287. + Tiền Việt Nam đồng: 1.400.000đ (đã chuyển vào TK 3949 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn). ( Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 19/4/2024 giữa Cơ quan Công an và Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Bỉm Sơn) Tiếp tục tạm giam bị cáo H, T45 (Bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo cho việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án. * Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo buộc các bị cáo H, T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo. Các bị cáo, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (13/5/2024).
