Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 16 /2024/HNGĐ-ST
Ngày: 13 - 5- 2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Vinh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Ngọc Hà

Ông Nguyễn Văn Ngư

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Trâm, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành: Ông Võ Văn Thuận – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 35/2024/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/4/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Bích N, sinh năm 1999 (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp

Chỗ ở hiện nay: Số I, Đ, phường A, quận S, thành phố Đ.

- Bị đơn: Ông Phan Tấn Đ, sinh năm 1988 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/02/2024; biên bản hòa giải ngày 22/03/2024; cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Lê Thị Bích N trình bày:

Bà và ông Đ kết hôn năm 2020, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

Thời gian đầu bà Ngọc v ông Đ chung sống hòa thuận, hạnh phúc, đến tháng 2 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn.

Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, không tôn trọng lẫn nhau, thường xuyên cự cãi, từ đó dẫn đến bất đồng quan điểm sống.

Từ tháng 2 năm 2023, đến nay vợ chồng sống ly thân, mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai nữa.

Nay bà N nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa. Vì vậy bà N làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đ.

Tại biên bản hòa giải ngày 22/03/2024; cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn ông Phan Tấn Đ trình bày: Đối với yêu cầu của bà Lê Thị Bích N xin ly hôn với ông, ông đồng ý.

Về con chung: Bà N khai vợ chồng có 01 con chung tên: Phan Chí K, sinh ngày 31/12/2021. Khi ly hôn, bà xin được nuôi dưỡng 01 con chung: Phan Chí K, sinh ngày 31/12/2021và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

Ông Đ công nhận vợ chồng có 01 con chung như bà N khai và xin được nuôi dưỡng con chung: Phan Chí K, sinh ngày 31/12/2021 và không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà N, ông Đ đều khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung: Bà N, ông Đ đều khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông Đ là quan hệ hợp pháp. Qua quá trình chung sống do hai bên bất đồng về quan điểm sống, không quan tâm đến nhau, nên dẫn đến va chạm, mâu thuẫn, mất lòng tin với nhau. Bà N xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ. Mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng, được cha mẹ hai bên đã khuyên giải nhưng không có kết quả. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông Đ đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà N xin ly hôn với ông Đ và ông Đ cũng đồng ý. Bà N xin ly hôn là có căn cứ, phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: Bà N và ông Đ đều có nguyện vọng được nuôi con. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Xét thấy, bà N là người đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phan Chí K, sinh ngày 31/12/2021. Tính tới thời điểm xét xử sơ thẩm, thì cháu K dưới 36 tháng tuổi (28 tháng 13 ngày tuổi), căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận nguyện vọng của bà N, giao 01 cháu: Phan Chí K, sinh ngày 31/12/2021; cho bà N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà N không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét

[6] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 án phí và lệ phí Tòa án bà N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân.

[8] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thị Bích N đối với bị đơn Phan Tấn Đ về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi khi ly hôn”, nguyên đơn Lê Thị Bích N được ly hôn với bị đơn Phan Tấn Đ; giao cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung tên: Phan Chí K, sinh ngày 31/12/2021; bị đơn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.Tài sản chung, không có; nợ chung không có, không đặt ra xem xét.

Lời đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, nên Hội Đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; khoản 3 Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

- Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Bích N.
  2. Về hôn nhân: Bà Lê Thị Bích N được ly hôn với ông Phan Tấn Đ
  1. Về con chung: Giao 01 con chung tên: Phan Chí K, sinh ngày 31/12/2021; cho bà Lê Thị Bích N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu đến khi đủ 18 tuổi.
    1. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà N không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
    2. Ông Phan Tấn Đ được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản.
  2. Về tài sản chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  3. Về nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  4. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lê Thị Bích N phải chịu 300.000đ, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp 300.000đ, theo biên lai thu tiền số 0000795 ngày 06/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng; bà Lê Thị Bích N đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Cơ quan đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Văn Vinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16 /2024/HNGĐ-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 16 /2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger