TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
BẢN ÁN SỐ: 16/2024/DS-ST
Ngày: 12/4/2024
V/v "Tranh chấp về hợp đồng góp hụi".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Hậu.
2. Ông Lê Trung Nam.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Hồng Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 367/2023/TLST- DS ngày 07 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp về hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2024/QĐST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
1/. Nguyên đơn: Bà Lai Thị Trúc X, sinh năm 1984. Địa chỉ: Tổ I, thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
2/. Bị đơn: Bà Bùi Thị L, sinh năm 1970. Địa chỉ: Tổ H, thôn D, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ vào lời khai và quá trình tố tụng, nguyên đơn - bà Lai Thị Trúc X trình bày:
Bà X quen biết bà Bùi Thị L do cùng buôn bán tại chợ T thuộc xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Bà X bắt đầu chơi hụi do bà L làm chủ hụi từ khoảng năm 2019 đến năm 2021. Quá trình chơi hụi từ năm 2019-2020 thì bà L không nợ tiền hụi nhưng từ năm 2021 đến nay bà L không trả tiền hụi cho bà X. Cụ thể như sau: Năm 2021, bà X chơi 01 dây hụi tháng do bà L làm chủ hụi, dây hụi gồm 14 chân, mở ngày 20/01/2021 âm lịch, mỗi chân đóng 2.000.000đ/tháng; khi muốn hốt hụi thì báo trước cho bà L 01 tháng; sau khi hốt hụi thì đóng hụi chết là 2.500.000đ/tháng/chân hụi; tiền thảo 500.000đ/chân hụi. Bà X chơi 10 chân trong dây hụi này, góp được 11 tháng (từ 20/01/2021 đến 20/11/2021 âm lịch), mỗi tháng góp 20.000.000đ thành tiền là 220.000.000đ (hai trăm hai mươi triệu đồng). Tháng 10/2021 (âm lịch), bà X báo bà L xin hốt hụi vào tháng 12/2021 (âm lịch), bà L đồng ý nhưng đến hạn hốt hụi thì bà L không cho hốt hụi như thỏa thuận. Do vậy, từ tháng 12/2021 âm lịch thì bà X ngừng đóng hụi cho bà L. Bà X nhiều lần yêu cầu bà L trả tiền hụi thì đến khoảng tháng 3/2022, bà L trả cho bà X số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), số tiền nợ hụi gốc còn lại cho đến nay bà L chưa trả.
Tại đơn khởi kiện, bà X yêu cầu Tòa án buộc bà L phải trả số tiền nợ hụi gốc còn lại là 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng), không yêu cầu bà L phải trả lãi. Tại phiên tòa, bà X tự nguyện giảm cho bà L 20.000.000đ tổng số tiền nợ do bà L gặp khó khăn. Bà X yêu cầu bà L phải tiếp tục trả số tiền còn lại là 180.000.000đ (một trăm tám mươi triệu đồng) cho bà X.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 01/3/2024, bị đơn - bà Bùi Thị L trình bày:
Bà L xác nhận có quen biết với bà Lai Thị Trúc X. Bà L xác nhận bà X có chơi 01 dây hụi tháng do mình làm chủ. Dây hụi này bà X chơi 10 chân, mỗi chân đóng 2.000.000đ. Bà L xác nhận cuốn sổ hụi mà bà X giao nộp cho Tòa án là do bà L lập và giao cho bà X, chữ viết, chữ ký trên sổ hụi là của bà L. Đối với yêu cầu trả số tiền nợ hụi gốc 200.000.000đ thì bà L đề nghị Tòa án cho tạm dừng để cung cấp tài liệu là cuốn sổ hụi đó bà L giữ, kiểm tra lại số tiền trong sổ hụi của bà L chậm nhất vào ngày 12/5/2024 để thương lượng về số tiền trả và phương thức trả với bà X. Sau đó, bà L vắng mặt, không tham gia phiên hoà giải, không tham gia phiên tòa.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, vi phạm quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử vụ án là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả số nợ tiền hụi gốc còn lại là 180.000.000đ (một trăm tám mươi triệu đồng) cho nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
Nguyên đơn - bà Lai Thị Trúc X khởi kiện yêu cầu trả tiền nợ hụi nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp về hợp đồng góp hụi”, bị đơn - bà Bùi Thị L có địa chỉ tại thị xã P nên căn cứ Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tại phiên tòa, bà Bùi Thị L đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ vào Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định pháp luật.
[2] Về nội dung khởi kiện:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy, quá trình tố tụng, Tòa án đã nhiều lần yêu cầu nhưng bà L không cung cấp cho Tòa án thêm tài liệu nào khác ngoài cuốn sổ hụi mà bà X giao nộp, đồng thời bà L cũng không có ý kiến xác nhận về số tiền nợ hụi do bà X yêu cầu trả. Xét lời khai của các bên thì thấy: Các bên đều xác nhận việc bà X có tham gia chơi hụi do bà L làm chủ hụi. Về số tiền góp hụi: Bà X khai việc góp hụi được giao trực tiếp cho bà L bằng tiền mặt và được bà L ghi theo từng kỳ góp tiền vào sổ hụi, đồng thời bà L cũng xác nhận chữ ký, chữ viết trên cuốn sổ hụi là do mình ký và viết. Như vậy, lời khai của bà X là phù hợp với tài liệu chứng cứ là cuốn sổ hụi ghi nhận số lần góp hụi, theo chân góp hụi của bà X nên có căn cứ xác định bà X đã góp hụi tổng cộng là 220.000.000đ (hai trăm hai mươi triệu đồng). Bà X xác nhận bà L đã trả trước 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) bằng tiền mặt, khi trả không lập giấy giao nhận. Tại phiên toà, bà X trình bày do thấy bà L gặp khó khăn nên tự nguyện giảm số tiền 20.000.000đ trong tổng số tiền nợ cho bà L nên số tiền còn lại bà X yêu cầu bà L trả là 200.000.000đ - 20.000.000đ = 180.000.000đ (một trăm tám mươi triệu đồng). Xét thấy, sự thừa nhận của nguyên đơn về việc bà L đã trả trước 20.000.000đ và việc giảm một phần tiền nợ hụi gốc của nguyên đơn tại phiên toà là tự nguyện và có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà cần buộc bà Bùi Thị L có nghĩa vụ trả cho bà Lai Thị Trúc X số tiền nợ hụi gốc là 180.000.000đ (một trăm tám mươi triệu đồng).
[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 9.000.000đ (chín triệu đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39 và Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 471 Bộ luật Dân sự; Các điều 18, 23, 25 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lai Thị Trúc X đối với bà Bùi Thị L về “Tranh chấp về hợp đồng góp hụi”.
Buộc bà Bùi Thị L phải trả cho bà Lai Thị Trúc X số tiền nợ hụi gốc là 180.000.000đ (một trăm tám mươi triệu đồng).
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí: Bà Bùi Thị L phải chịu 9.000.000đ (chín triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho bà Lai Thị Trúc X 5.000.000đ (năm triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 7103 ngày 06 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Bùi Thị Huyền |
Bản án số 16/2024/DS-ST ngày 12/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp về hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 16/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Lại Thị Trúc X khởi kiện tranh chấp hợp đồng góp hui với bà Bùi Thị L
