|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA TỈNH PHÚ YÊN Bản án số: 16/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11-5-2024 V/v: “Tranh chấp về ly hôn”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hữu Duyên;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Tàu.
- Ông Lê Thanh Khảnh.
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Thái – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: ông Trần Bảo Pháp – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: anh Đặng Ngọc N, sinh năm 1993; địa chỉ: khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
Bị đơn: chị Trương Kiều Diễm T, sinh năm 1993; địa chỉ: khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/01/2024, tài liệu có tại hồ sơ, nguyên đơn anh Đặng Ngọc N trình bày:
- Về hôn nhân: anh (N) và chị Trương Kiều D Thi tự nguyện tìm hiểu được 06 năm trước khi đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thị xã Đ theo giấy chứng nhận kết hôn số 63, cấp ngày 04/9/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, đến tháng 10/2023 giữa anh và chị T xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do chị T không hợp tính cách, bất đồng quan điểm sống, chị T không tôn trọng riêng tư của anh, chị T đặt định vị theo dõi làm bản thân anh cảm thấy bị xúc phạm đến quyền riêng tư của mình. Nay, anh nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa anh và chị T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể chung sống nên N yêu cầu được ly hôn chị T.
- Về con chung: có 01 con chung Đặng Hoàng Thiện N1 (sinh ngày 17/6/2020), hiện nay đang ở với chị Trương Kiều Diễm T, anh đồng ý để chị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn chị Trương Kiều Diễm T trình bày:
- Về hôn nhân: chị (T) và anh Đặng Ngọc N tự nguyện tìm hiểu được 07 năm trước khi đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thị xã Đ theo giấy chứng nhận kết hôn số 63, cấp ngày 04/9/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị và anh N vẫn sống hạnh phúc không có mâu thuẫn như lời anh N trình bày. Chị vẫn còn tình cảm, yêu thương chồng con nên chị không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh N.
- Về con chung: có 01 con chung Đặng Hoàng Thiện N1 (sinh ngày 17/6/2020), hiện nay đang ở với chị; trường hợp toà cho ly hôn thì chị yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu ly hôn chị Trương Kiều Diễm T; anh N đồng ý để chị T tiếp tục nuôi dưỡng con chung, anh N tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng; không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung.
Bị đơn không đồng ý ly hôn anh N, việc gắn định vị theo dõi anh N vì nghi ngờ anh N có tình cảm với người phụ nữ khác; nếu toà cho ly hôn thì chị đề nghị tiếp tục được nuôi dưỡng con, chị T đồng ý mức cấp dưỡng nuôi con mà anh N đưa ra là 2.000.000 đồng/tháng; tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đảm bảo cho đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ.
Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 51, 58, 81, 82, 83 và Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đặng Ngọc N. Về quan hệ hôn nhân cho anh Đặng Ngọc N được ly hôn chị Trương Kiều Diễm T; về con chung: giao con chung tên Đặng Hoàng Thiện N1 cho chị Trương Kiều D T tiếp tục nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con: ghi nhận sự tự nguyện của anh N và sự tự thoả thuận giữa anh N và chị T, anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng; về tài sản chung và nợ: không xem xét giải quyết. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của các bên đương sự; Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: anh Đặng Ngọc N khởi kiện xin ly hôn chị Trương Kiều Diễm T và giải quyết các vấn đề về con chung theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: anh Đặng Ngọc N và chị Trương Kiều Diễm T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã (nay là phường) Hòa Hiệp N2, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên vào 04/9/2019, là hôn nhân hợp pháp.
Anh Đặng Ngọc N kiên quyết yêu cầu được ly hôn chị Trương Kiều Diễm T với lý do chị T không tôn trọng đời sống riêng của anh N, đặt định vị theo dõi đời sống riêng của anh N và đến nơi làm việc gây ảnh hưởng đến công việc của anh N; còn chị Trương Kiều D T cho rằng chị vẫn còn yêu thương anh N và con nên không đồng ý ly hôn.
Tại phiên toà, chị T thừa nhận anh N ở tại nơi làm việc và không về nhà từ tháng 10/2023 nhu lời anh N trình bày và chị T cho rằng việc theo dõi giám sát anh N vì chị T nghi ngờ anh N có tình cảm với người phụ nữ khác, còn anh N cho rằng lý do không về nhà chỉ vì sẽ xảy ra cãi vã vì trước đó anh bận công tác “diễn tập quân sự” nhưng chị T không tin vẫn đặt định vị theo dõi làm ảnh hưởng đến công việc của anh.
Tại Biên bản xác minh ngày 08/4/2024, Ban chỉ huy quân sự thị xã Đ cung cấp: “... Theo lịch trực của đơn vị, anh Đặng Ngọc N được phân công lịch trực một ngày làm, một ngày nghỉ, thời gian trực từ 7 giờ ngày hôm trước đến 7 giờ ngày hôm sau, và phải thực hiện nhiệm vụ công tác đột xuất theo yêu cầu của lãnh đạo cơ quan”; và xác minh tình trạng đời sống hôn nhân giữa anh N, chị T, địa phương cung cấp: “...được biết đời sống chung vợ chồng giữ anh N, chị T có lục đục trong đời sống chung vợ chồng thời gian gần đây. Ông Đặng Ngọc N vẫn sinh hoạt chi bộ tại địa phương”. Như vậy, đời sống chung vợ chồng giữa anh N và chị T đang không hạnh phúc, không có tiếng nói chung để giải quyết mâu thuẫn đang xảy ra. Anh Đặng Ngọc N đi làm không về nhà nhưng chị T cũng không tìm mọi cách níu kéo để được hàn gắn.
Xét thấy, lời trình bày của anh N về nguyên nhân ly hôn phù hợp với nội dung xác minh. Anh N không về nhà với vợ con mỗi khi hết giờ làm việc trong thời gian dài - điều này thấy rằng tình cảm vợ chồng anh N giành cho chị T không còn, mục đích hôn nhân của anh N không đạt được, anh N không về nhà nhưng chị T không quan tâm níu kéo để hàn gắn. Chị T không muốn ly hôn nhưng quá trình giải quyết cũng như tại phiên toà chị T lại không thể hiện bằng hành động cụ thể để được níu kéo hàn gắn, lời yêu thương của chị T không được anh N chấp nhận, anh N tha thiết muốn được giải thoát cho cả hai. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, anh Đặng Ngọc N được ly hôn chị Trương Kiều Diễm T, để đảm bảo các bên ổn định cuộc sống riêng.
[2.2] Về con chung: anh N và chị T có 01 con chung tên Đặng Hoàng Thiện N1 (sinh ngày 17/6/2020), chị T đang là người trực tiếp nuôi dưỡng, anh N không tranh chấp về quyền nuôi con. Do đó, để đảm bảo sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần cho cháu N1, giao cháu N1 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh N phải cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: tại phiên toà, anh N tự nguyện mức cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng tính từ ngày xét xử sơ thẩm và chị T đồng ý cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng tính từ ngày xét xử sơ thẩm. Xét thấy, mức cấp dưỡng nuôi con anh N đưa ra là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp mức sống và thu nhập bình quan tại địa phương là 3.640.000 đồng theo Nghị định 38/2022/NĐ-CP ngày 12/6/2022 của Chính phủ quy định về mức lương tối thiểu đối với lao động phổ thông. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của anh N và ghi nhận sự thoả thuận mức cấp dưỡng nuôi con giữa anh N và chị T, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày xét xử sơ thẩm.
Anh Đặng Ngọc N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Khi điều kiện thay đổi và cần thiết, các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.
[3] Về án phí: anh N phải chịu 300.000 đồng án phí về hôn nhân và 300.000 đồng án phí về cấp dưỡng nuôi con, tổng cộng phải chịu 600.000 đồng dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 117 và Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình; Áp dụng điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đặng Ngọc N.
- Về quan hệ hôn nhân: anh Đặng Ngọc N được ly hôn với chị Trương Kiều Diễm T.
- Về con chung: giao cháu Đặng Hoàng Thiện N1 (sinh ngày 17/6/2020) cho chị Trương Kiều D Thi tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
- Về cấp dưỡng nuôi con: ghi nhận sự tự nguyện của anh Đặng Ngọc N và ghi nhận sự thoả thuận mức cấp dưỡng nuôi con giữa anh Đặng Ngọc N và chị Trương Kiều Diễm T, anh Đặng Ngọc N phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000₫ (Hai triệu đồng).
Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 11/5/2024 cho đến khi phát sinh một trong những căn cứ chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét giải quyết.
- Về án phí: anh Đặng Ngọc N phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con, tổng cộng anh N phải chịu 600.000đ, được khấu trừ 300.000đ đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 0011337 ngày 16/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa, nên anh N còn phải chịu án phí sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Duyên |
Bản án số 16/2024/HNGĐ-ST ngày 11/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 16/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn vì bị đơn gắn định vị theo dõi làm ảnh hưởng công việc và đời sống riêng, bất đồng quan điểm sống. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
