|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2025/DS-PT
Ngày 11-3-2025
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
(ranh, mốc giới sử dụng đất).
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Trần Minh Phương |
| Các Thẩm phán: | Ông Đinh Duy Việt |
| Bà Ngô Thị Thuỳ Linh |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Nga - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Phương Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 94/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh, mốc giới sử dụng đất).
Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 10/2025/QĐ-PT ngày 05 tháng 02 năm 2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian phiên toà số 13/TB-TA ngày 03 tháng 03 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị C, sinh năm 1953; nơi cư trú: Số nhà G đường C, thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; có mặt;
- Bị đơn: Ông Bùi Văn T, sinh năm 1959; nơi cư trú: Số nhà G đường C, thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; có mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Bà Nguyễn Thị L - Luật sư Văn phòng L1 – Chi nhánh tại Hải Phòng thuộc Đoàn luật sư thành phố H; có mặt;
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Bà Ngô Thị N, sinh năm 1959; nơi cư trú: Số nhà G đường C, thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng;
- Người đại diện theo uỷ quyền của bà Ngô Thị N: Ông Bùi Văn T, sinh năm 1959; nơi cư trú: Số nhà G đường C, thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng (theo Giấy uỷ quyền ngày 06/8/2024); có mặt;
- 3.2. Anh Trịnh Xuân H, sinh năm 1985 và chị Lương Minh T1, sinh năm 1990; cùng nơi cư trú: Số nhà G đường C, thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; chị T1 có mặt, anh H vắng mặt (đề nghị xét xử vắng mặt);
- Người kháng cáo: Bà Đoàn Thị C là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện nhận ngày 08/5/2024; đơn sửa đổi yêu cầu khởi kiện ngày 17/5/2024; bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án tại tòa án cấp sơ thẩm, nguyên đơn bà Đoàn Thị C; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – anh Trịnh Xuân H, chị Lương Minh T1 thống nhất trình bày:
Tháng 11 năm 1984, bà C được Ủy ban nhân dân xã T và Ủy ban nhân dân huyện K cấp cho diện tích đất 280m² ở đường C. Diện tích đất này liền kề với đầm sâu không cấy được nên đến năm 1989 Ủy ban nhân dân xã T tiếp tục thanh lý cho bà C diện tích đầm sâu và bà C đã nộp tiền vào ngân sách của xã. Đến ngày 13/5/2009, bà C được Ủy ban nhân dân huyện A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với diện tích đất ở 280m², tại thửa đất số 116, tờ bản đồ số 247-C-1; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện A. Đến năm 2012, bà C đề nghị được cấp tiếp diện tích liền kề phía sau được Ủy ban nhân dân xã T thanh lý năm 1989. Ngày 29/8/2012, Ủy ban nhân dân huyện A đã cấp đổi giấy chứng nhận cho bà C thêm diện tích đất phía sau liền kề với diện tích đất 280m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2009. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 141985, số vào sổ cấp GCN: CH00489/AL ngày 29/8/2012 do Ủy ban nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng cấp đứng tên người sử dụng đất bà Đoàn Thị C, ông Trịnh Xuân D (chồng của bà C đã chết năm 2013) được quyền sử dụng thửa đất số 116, tờ bản đồ số 247-C-1, diện tích đất ở: 491,4m² (trong đó có 126m² đất ở nằm trong quy hoạch hành lang giao thông); địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện A. Khi cán bộ địa chính xã đo khảo sát để cấp giấy chứng nhận thì chiều rộng phía trước và phía sau của thửa đất là 12,6m. Hộ gia đình ông T liền kề với thửa đất của gia đình bà C đã được cấp giấy chứng nhận năm 2010 và đã cắm mốc giới. Khi ông T làm làm thủ tục cấp giấy chứng nhận, ông T không thông báo cho bà C ra nhận mốc giới, khi đo xong, ông T cầm trích đo đưa bà C ký. Vì tin và nể ông T là hàng xóm nên bà C ký mà không kiểm tra các mốc giới đã xác định. Năm 2012, khi làm thủ tục cấp đổi lại giấy chứng nhận, bà C biết thiếu đất nhưng không xác định được thiếu ở vị trí nào; đòi đất thì sợ mâu thuẫn và các hộ liền kề không ký giáp ranh cho bà C nên đã đồng ý với diện tích đất cấp đổi lại là 491,4m².
Tháng 11 năm 2021, bà C đề nghị địa chính xã làm thủ tục tách thửa đất số 116, tờ bản đồ số 247-C-1, mục đích để phân chia cho các con. Khi đo khảo sát bằng máy, diện tích các cạnh thay đổi; diện tích đất hiện trạng so với giấy chứng nhận đã cấp tăng 3,8m², địa chính thông báo chiều rộng cạnh giáp đường của thửa đất bà C sử dụng tăng 10cm, chiều rộng phía sau của thửa đất tăng 18cm. Ông T cho rằng thửa đất của ông T, chiều rộng giáp đường thiếu 10cm, chiều rộng phía sau thiếu 15cm nên yêu cầu bà C phải trả lại diện tích đất thiếu thì mới ký giáp ranh. Bà C không đồng ý và cho rằng phần đất dư chiều rộng phía trước 10cm và chiều rộng phía sau 20cm là của bà C vì diện tích đất hiện trạng của bà C tăng so với giấy chứng nhận bà C được cấp nhưng so với diện tích đất bà C được cấp năm 1984 thì còn thiếu. Diện tích đất hiện trạng của ông T thiếu so với giấy chứng nhận cấp nhưng tăng so với diện tích đất được cấp năm 1985. Năm 2010, Ủy ban nhân dân huyện A cấp giấy chứng nhận cho ông T được quyền sử dụng diện tích đất 285m² là lấn vào đất của bà C và đất công. Uỷ ban xã đã tiến hành hoà giải 03 lần động viên ông T ký giáp ranh nhưng ông T không đồng ý, vẫn tranh chấp và gây khó khăn cho bà C trong việc tách thửa đất hơn 02 năm nay.
Ngày 19/02/2024, bà C gửi hồ sơ đến Ủy ban nhân dân huyện A đề nghị tách thửa đất cho bà C theo quy định của pháp luật. Ngày 04/3/2024 đội đo đạc xuống để đo tách 02 lô đất cho con bà C, lô còn lại giáp ranh với thửa đất của ông T giữ nguyên theo giấy chứng nhận đứng tên bà C. Ông T biết việc này nên đã làm đơn kiến nghị yêu cầu cơ quan có thẩm quyền dừng việc tách thửa đất của bà C. Do đó, ngày 25/3/2024 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện A đã trả hồ sơ xin tách thửa của bà C với lý do đất đang có tranh chấp.
Về công trình xây dựng trên đất: Tháng 02 năm 1985 bà C xây nhà, ông T được cấp đất và xây nhà sau nhà bà C. Khoảng cách mốc giới từ tường nhà bà C sang tường nhà ông T là 10cm là móng non của nhà bà C. Năm 1995 ông T xây nhà giáp nhà bà C nên nhà bà C nghiêng về phía nhà ông T 10cm, làm sụt mái, sụt nền. Năm 2016, ông Trọng phá nhà cũ xây nhà mới giáp tường nhà bà C. Do nhà bà C nghiêng không xây tiếp được, ông T đã cắm tôn lên mái nhà của bà C, chưa được sự đồng ý của bà C làm đọng nước, ngấm nứt mái, mỗi khi trời mưa nước chảy xuống tường và mái dột, ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày của bà C. Tuy nhiên, bà C cho rằng đối với các công trình ông T đã xây dựng sang phần đất của bà C, bà C không đòi lại.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên bà C làm đơn khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết: Xác định ranh giới, mốc giới thực tế giữa thửa đất của bà C và thửa đất của ông T. Làm rõ việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T có đúng nguồn gốc đất đã được cấp năm 1985. Buộc ông T phải tháo dỡ toàn bộ tôn cắm trên mái nhà của bà C.
Tại bản tự khai ngày 25/6/2024, ngày 26/6/2024, ngày 12/8/2024 và quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, bị đơn - ông Bùi Văn T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Ngô Thị N thống nhất trình bày:
Nguồn gốc diện tích đất hiện vợ chồng ông T đang quản lý, sử dụng tại số nhà G đường C thôn N, xã T là của bố đẻ ông T, cụ Bùi Duy C1 để lại cho ông T. Cụ C1 được Ủy ban nhân dân huyện K cấp năm 1985, diện tích đất 119m² (rộng 07m, dài 17m). Đến năm 1991, ông T làm nhà. Đến năm 2010, Ủy ban nhân dân xã T căn cứ hiện trạng đất của từng gia đình sử dụng ổn định nên cấp thêm 01 phần diện tích đất dôi dư cho các hộ gia đình, trong đó có hộ ông T nên diện tích đất hiện tại của gia đình ông T là 285m² (chiều rộng giáp đường 07m, chiều rộng phía sau 7,6m; chiều dài 39,5m). Diện tích đất này đã được Ủy ban nhân dân huyện A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông T và bà N. Kể từ khi cụ C1 được cấp đất cho đến năm 2021 thì mới có tranh chấp với bà C, còn trước đó gia đình ông T sử dụng đất ổn định, không tranh chấp ranh, mốc giới sử dụng đất với ai. Lý do: Năm 2021, bà C có nhu cầu phân tách đất cho con trai và con gái mỗi người 01 lô đất. Khi cán bộ địa chính xuống đo đạc thì diện tích đất hiện trạng của bà C thừa, còn diện tích đất hiện trạng của ông T bị thiếu, cụ thể chiều rộng phía trước của thửa đất nhà ông T thiếu 12cm, chiều rộng phía sau của thửa đất nhà ông T thiếu 18cm. Do vậy, ông T không ký giáp ranh nên giữa hai gia đình xảy ra tranh chấp về ranh giới sử dụng đất.
Về tài sản trên thửa đất: Năm 1991, gia đình ông T xây nhà ở diện tích 50m². Nhà bà C khi đó đã xây dựng nhà trước, gia đình ông T xây sát móng của nhà bà C. Đến năm 2017, gia đình ông T phá nhà cũ làm lại nhà mới do nhà cũ xuống cấp và có nhu cầu xây rộng hơn. Cụ thể: Phần đầu của thửa đất, ông T xây lán tôn để bán hàng; sau đó đến nhà ở 2,5 tầng; xây dựng tường bao trên diện tích đất được cấp 285m². Khi ông T xây lán trên phần móng nhà cũ thì tường nhà bà C đã nghiêng sang phần móng của nhà ông T. Phần mái bê tông của bà C sang lán của ông T 20cm. Do vậy, có chỗ ông T xây được, có chỗ ông T không xây được. Hiện tại chiều ngang giáp mặt đường nhà ông T thiếu 12cm. Tường bao giáp nhà bà C phía sau, bà C yêu cầu thợ xây vào đất của nhà ông T. Như vậy, chiều rộng thửa đất của ông T thiếu 12cm phần đầu thửa đất và phần cuối thửa đất thiếu 18cm; còn đất của bà C thừa. Căn cứ vào hai giấy chứng nhận đã cấp cho ông T năm 2010 (diện tích 285m², rộng 7,0m và 7,6m, chiều dài 39,5m) và bà C cấp năm 2012 (diện tích 491,4m², rộng 12,6m, chiều dài 39m), ông T thấy rằng các yêu cầu khởi kiện của bà C là không đúng nên đề nghị Toà án bác yêu cầu khởi kiện của bà C. Đề nghị Toà án trả lại diện tích đất còn thiếu cho gia đình ông T theo giấy chứng nhận đã được cấp.
Với nội dung như trên, tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 20/2024/DS-ST ngày 29/9/2024, Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng đã căn cứ các Điều 164, 166, 175, 176, 250 của Bộ luật Dân sự; Điều 166 Luật Đất đai năm 2013; Điều 26 và Điều 236 của Luật Đất đai năm 2024 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C về việc xác định ranh, mốc giới giữa thửa đất 116, tờ bản đồ số 247-C-1 với thửa đất số 115, tờ bản đồ số 247-C-1 là một đường thẳng kéo dài từ điểm 4 đến điểm 9 được giới hạn bởi các điểm 4, 18, 17, 15, 12, 11, 10 và 9 (có sơ đồ kèm theo bản án sơ thẩm). Bà C, ông T có quyền làm thủ tục tách giấy chứng nhận, thay đổi tên chủ sử dụng diện tích đất nêu trên theo quyết định của bản án. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C về việc buộc ông T phải tháo dỡ phần mái tôn của quán bán hàng xây đè lên mái nhà của bà C. Buộc ông T phải lắp đặt đường dẫn nước chạy dọc theo mái tôn quán để nước mưa không làm ảnh hưởng đến mái nhà của bà C.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí; chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản; lãi suất chậm thi hành án và tuyên quyền kháng cáo đối với các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08/10/2024 và ngày 22/10/2024, nguyên đơn – bà Đoàn Thị C nộp đơn kháng cáo và kháng cáo bổ sung, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà C. Lý do: Bản án sơ thẩm xét xử không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bà C, việc đo vẽ hiện trạng thửa đất của bà C tại giai đoạn sơ thẩm là không chính xác.
Tại giai đoạn phúc thẩm, bà C, ông T trình bày: Chiều dài đất giáp ranh giữa thửa đất của bà C và ông T một phần đã được bà C và ông T xây công trình nhà ở; phần còn lại ông T đã xây tường bao năm 2016. Về nhà ở, bà C xây năm 1985, ông T xây năm 1991. Tại thời điểm hai bên xây nhà ở và thời điểm ông T xây dựng tường bao, hai bên không có tranh chấp về ranh, mốc giới. Tuy nhiên, ranh giới giữa hai nhà tại phần giáp vỉa hè kéo dài theo chiều dài của thửa đất khoảng 04m-05m thì còn khoảng không (rộng khoảng 20cm, dài khoảng 04-05m) chưa có công trình xây dựng. Bà C cho rằng khoảng diện tích chưa xây dựng giáp ranh giữa hai thửa đất là thuộc quyền sử dụng của bà C, còn ông T cho rằng ½ khoảng diện tích chưa xây dựng này thuộc quyền sử dụng của ông T. Bà C cho rằng Sơ đồ mặt bằng hiện trạng do Toà án cấp sơ thẩm đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ là chưa chính xác, Toà án cấp sơ thẩm chưa phân định phần diện tích chưa xây dựng công trình này giữa hai gia đình thuộc quyền sử dụng của ai. Do vậy, bà C đề nghị Toà án cấp phúc thẩm tiến hành xem xét, thẩm định lại đối với hai thửa đất của các bên đương sự để xác định ranh, mốc giới giữa hai thửa đất.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn, bà C xác nhận rõ yêu cầu khởi kiện là: Đề nghị Toà án xác định phần diện tích đất 0.5m² (bao gồm các mốc: 16a, 4, 5, 16a) theo Sơ đồ hiện trạng ngày 14/01/2025, chưa xây dựng công trình giữa nhà bà C và nhà ông T, phía đầu thửa đất, giáp vỉa hè đường 354 thuộc quyền sử dụng của bà C. Đối với phần giáp ranh giữa hai thửa đất đã được hai bên xây dựng nhà ở và tường bao và sử dụng ổn định, bà C không tranh chấp và nhất trí xác nhận đó là ranh giới giữa thửa đất nhà bà C và thửa đất nhà ông T. Đề nghị Toà án xác định là ranh, mốc giới giữa hai thửa đất số 115 và 116, cùng tờ bản đồ số 247-C-1. Yêu cầu ông T, bà N phải tháo dỡ phần mái tôn đã lợp chùm lên mái nhà của bà C khoảng 10cm. Về nội dung kháng cáo: Bà C giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đối với bản án sơ thẩm, đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của bà C. Đồng thời bà C xác nhận bà C không có ý kiến thắc mắc gì về việc Ủy ban nhân dân huyện A đã cấp giấy chứng nhận cho bà C được quyền sử dụng đối với diện tích đất 491,4m², không có ý kiến đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện A đã cấp cho ông T.
Bị đơn ông T nhất trí với lời trình bày của bà C về việc: Phần giáp ranh giữa hai thửa đất đã được hai bên xây dựng nhà ở và tường bao, các bên đã sử dụng đất ổn định nên ông T đề nghị Toà án xác định là ranh giới giữa hai thửa đất. Còn phần diện tích giáp ranh giữa hai nhà, theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 14/01/2025 đã xác định là 0,5m² (được mô tả tại Sơ đồ hiện trạng) là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông T nên đề nghị Toà án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của bà C. Phần mái tôn, ông T lợp trong phạm vi sử dụng đất của ông T nên đề nghị Toà án cũng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của bà C. Tuy nhiên, sau khi được Chủ toạ phiên toà giải thích thì ông T đồng ý tự nguyện làm đường ống thoát nước mưa chạy dọc theo mái tôn để không làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của bà C. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T đề nghị Toà án căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hai bên đương sự để xác định phần diện tích đất 0,5m² thuộc quyền sử dụng đất của bà C hay ông T; phần ranh giới giữa hai gia đình đã ngăn cách bằng công trình xây dựng và tường bao, các bên đều nhất trí xác định là ranh giới giữa hai thửa đất. Căn cứ kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo và yêu cầu khởi kiện của bà C, sửa bản án sơ thẩm theo hướng, xác định phần diện tích đất hai bên đang tranh chấp 0,5m² thuộc quyền sử dụng của ông T và buộc bà C phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tại giai đoạn sơ thẩm.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự cơ bản đã chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quan điểm của Kiểm sát viên đối với kháng cáo của bị đơn: Tại phiên toà phúc thẩm, bà C xác định lại yêu cầu khởi kiện rõ ràng hơn. Căn cứ kết quả xem xét thẩm định, tại chỗ ngày 14/01/2025, không cơ cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bà C. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm xác định ranh, mốc giới giữa hai thửa đất chưa chính xác và quyết định nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tại giai đoạn sơ thẩm chưa đúng nên đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bà C, sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác định ranh, mốc giới giữa hai thửa đất theo sơ đồ hiện trạng đã thẩm định (công nhận quan điểm của ông T và bà C về ranh giới giữa hai thửa đất đối với phần giáp ranh đã xây dựng công trình; phần ráp gianh chưa xây dựng công trình thì phần giáp ranh xác định diện tích tranh chấp 0,5m² thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông T); buộc bà C phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tại giai đoạn sơ thẩm. Ghi nhận sự tự nguyện của ông T về việc làm đường ống thoát nước mưa chạy dài theo mái tôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
- [1] Quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh, mốc giới sử dụng đất) thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do vụ án có kháng cáo nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng - quy định tại khoản 9 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Xét kháng cáo của nguyên đơn – bà Đoàn Thị C.
- [2] Đơn kháng cáo của bà C trong thời hạn luật định nên là kháng cáo hợp pháp, Toà án xem xét, giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm.
- [3] Về thời hiệu khởi kiện: Quan hệ tranh chấp của các đương sự là tranh chấp quyền sử dụng đất không áp dụng thời hiệu khởi kiện nên Toà án thụ lý giải quyết yêu cầu của bà C theo quy định tại khoản 3 Điều 155 Bộ luật Dân sự.
- [4] Về nguồn gốc thửa đất bà C đang quản lý sử dụng tại thôn N, xã T, huyện A:
- [4.1] Theo tờ bản đồ Ủy ban nhân dân xã T đang quản lý (Bản đồ được giao nhưng không có dấu, không có chữ ký, không ghi năm) thể hiện: Tại tờ bản đồ số 4, số thửa 767, diện tích 280m². Sổ mục kê năm 1985, trang số 140, thửa số 767, diện tích 280m² mang tên chủ sử dụng Đoàn Thị C.
- [4.2] Theo bản đồ địa chính xã đo vẽ tháng 10 năm 1996 và Sổ mục kê lập năm 2000, quyển 4, trang 59 thể hiện: Tại tờ bản đồ số: 247-C-1, số thửa 116 (trước là thửa 767, tờ bản đồ số 4), diện tích 235m², trong đó 200m² đất ở, 35m² đất vườn, tên chủ sử dụng Đoàn Thị C.
- [4.3] Ngày 13/5/2009, Ủy ban nhân dân huyện A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 890787, số vào sổ cấp GCN: CH 00020/AL đứng tên người sử dụng đất bà Đoàn Thị C, ông Trịnh Xuân D được quyền sử dụng diện tích đất ở 280m², tại thửa đất số 116, tờ bản đồ số 247-C-1; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng.
- [4.4] Ngày 28/3/2012, Ủy ban nhân dân xã T đã tổ chức cuộc họp để xác minh nguồn gốc đất ở của hộ bà Đoàn Thị C. Tại cuộc họp, các thành viên đã thống nhất đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo diện tích đất hiện trạng của hộ bà Đoàn Thị C đang sử dụng theo quy định của pháp luật. Qua thực tế đo đạc tại thực địa thì diện tích bà C hiện đang sử dụng là 491,4m². Tại thời điểm này thửa đất không có tranh chấp. Ngày 29/8/2021, Ủy ban nhân dân huyện A tiếp tục cấp đổi giấy chứng nhận cho bà C. Lý do cấp đổi: Thay đổi diện tích đất. Cụ thể Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 141985, số vào sổ cấp GCN CH00489/AL ngày 29/8/2012 do Ủy ban nhân dân huyện A cấp đứng tên người sử dụng bà Đoàn Thị C, ông Trịnh Xuân D được quyền sử dụng diện tích đất ở 491,4m² (trong đó 126m² đất ở nằm trong quy hoạch hành lang giao thông), tại thửa đất số 116, tờ bản đồ số 247-C-1; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng.
- [5] Về nguồn gốc thửa đất ông T đang quản lý sử dụng tại thôn N, xã T, huyện A:
- [5.1] Theo tờ bản đồ Ủy ban nhân dân xã T đang quản lý (Bản đồ được giao nhưng không có dấu, không có chữ ký, không ghi năm) thể hiện: Diện tích đất ông Bùi Văn T trước đây là thửa đất số 766, tờ bản đồ số 4 (hiện tại là thửa đất số 115, tờ bản đồ số 247-C-1) có diện tích 247m², loại đất thổ cư, tên chủ sử dụng Bùi Văn C2 (là bố đẻ của ông Bùi Văn T).
- [5.2] Theo bản đồ địa chính xã đo vẽ tháng 10 năm 1996 và Sổ mục kê lập năm 2000, quyển 4, trang 59 thể hiện: Thửa đất số 115, tờ bản đồ số 247-C-1 có diện tích 253m², trong đó 200m² đất ở, 53m² đất vườn, tên chủ sử dụng Bùi Văn T.
- [5.3] Ngày 10/9/2010, Ủy ban nhân dân huyện A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 582582, số vào sổ cấp GCN: CH 00115/AL đứng tên người sử dụng ông Bùi Văn T, bà Ngô Thị N được quyền sử dụng diện tích đất ở 285m² (trong đó đất hành lang giao thông 70m²) tại thửa đất số 115, tờ bản đồ số 247-C-1.
- [6] Ngày 14/01/2025, Toà án phúc thẩm tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ để đo vẽ sơ đồ hiện trạng thửa đất số 116 và thửa đất số 115 cùng tờ bản đồ số 247-C-1 do bà C và ông T đang quản lý, sử dụng (theo yêu cầu của bà C) để xác định diện tích đất hiện trạng của 02 thửa đất trên so với diện tích đất bà C, ông T đã được Ủy ban nhân dân huyện A cấp giấy chứng nhận. Từ đó xác định diện tích đất hiện trạng các bên đương sự đang quản lý, sử dụng đã thay đổi như thế nào. Theo lời trình bày của các bên đương sự thì giáp ranh giữa hai thửa đất này, ngoài phần giáp ranh hai bên đã xây dựng công trình nhà ở và tường bao thì còn phần đất trống giáp ranh giữa hai thửa đất hai bên chưa xây dựng công trình nên cần đo, vẽ xác định kích thước, vị trí khoảng không này, đối chiếu với giấy chứng nhận hai bên đã được cấp thì phần diện tích này thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bên đương sự nào. Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ như sau (có sơ đồ hiện trạng):
- [6.1] Đối với thửa đất số 116, tờ bản đồ số 247-C-1 (số G đường T là đường C) do gia đình bà C đang quản lý, sử dụng: Phía Bắc giáp đất của ông Bùi Văn T; phía Đông giáp đường T; phía Nam giáp đất ông Phạm Hồng S; Phía Tây giáp đất nông nghiệp do gia đình ông Bùi Văn T quản lý. Về tài sản trên thửa đất: 01 nhà ở do bà C xây dựng năm 1985, giáp vỉa hè đường T có kết cấu tường gạch, mái bằng, phía trước là quán lợp tôn mạ màu xây năm 2000; 01 nhà ở một tầng, kết cấu tường gạch, mái bằng do anh H, chị T1 (vợ chồng con trai của bà C) đang sử dụng. 01 lán kết cấu khung cột sắt, tường quây tôn, lán tôn; 01 công trình phụ bao gồm bếp và nhà vệ sinh, kết cấu tường gạch mái bằng. Số đo cụ thể: Diện tích đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 491,4m². Diện tích ghép cạnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 488,8m². Diện tích theo hiện trạng sử dụng đất: 496,9m², trong đó diện tích nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 486,7m²; diện tích thuộc đất nông nghiệp: 3,1m²; diện tích chồng đè sang đất ông T và bà N: 0,3m² (giới hạn bởi các mốc 10, 12, 13, 14, 10) và 0,6m² (giới hạn bởi các mốc 16, 16a, 5, 16). Diện tích chồng đè sang đất hộ ông S: 5,1m² (giới hạn bởi các mốc 6, 7, 8, 8a, 6).
- [6.2] Đối với thửa đất số 115, tờ bản đồ số 247-C-1 do gia đình ông T đang quản lý, sử dụng (số G đường T là đường C): Phía Bắc giáp đất của ông Ngô Văn N1; phía Đông giáp đường T (đường C); phía Nam giáp đất bà Đoàn Thị C; Phía Tây giáp đất nông nghiệp do ông Bùi Văn T quản lý. Về tài sản trên thửa đất: 01 nhà ở 03 tầng, kết cấu tường gạch mái bằng, 01 nhà bếp 01 tầng kết cấu tường gạch mái tôn; 01 quán bán hàng, kết cấu tường gạch mái tôn. Số đo cụ thể: Diện tích đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 285m². Diện tích ghép cạnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 287,1m². Diện tích theo hiện trạng sử dụng đất: 304,3m², trong đó diện tích nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 285,8m²; diện tích thuộc đất nông nghiệp: 17,7m²; diện tích chồng đè sang đất bà C: 0,8m² (giới hạn bởi các mốc 14, 15a, 16, 15, 14).
- [6.3] Đối với vị trí đất bà C, ông T đang tranh chấp: Phía Bắc giáp tường quán bán hàng của gia đình ông T; phía Đông giáp vỉa hè đường Trần Tất V; phía Nam giáp tường quán của bà Đoàn Thị C. Hiện trạng là khe trống, chưa xây dựng công trình. Ngoài vị trí hai bên đang có tranh chấp trên, các vị trí giáp ranh giữa hai bên đã xây nhà và tường bao hai bên xác nhận không có tranh chấp và đề nghị Toà án công nhận ranh giới hai thửa đất trên cơ sở tôn trọng hiện trạng các công trình hai gia đình đã xây dựng. Diện tích đất đang tranh chấp: 0,5m² (giới hạn bởi các mốc 16a, 4, 5, 16a) nằm trong diện tích đất đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T, bà N.
- [7] Kết quả định giá tài sản: Vật kiến trúc: 01 đoạn tường bao xây gạch chỉ 8,449m², trị giá: 6.126.353 đồng; 01 đoạn tường bao xây gạch chỉ: 20,340m², trị giá 14.748.493 đồng; 01 đoạn tường bao xây gạch chỉ 6,138m², trị giá: 3.054.981 đồng. Giá đất tại thửa đất số 115, 116, tờ bản đồ số 247-C-I: 25.000.000 đồng/m².
- [8.1] Từ những nội dung trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Thửa đất số 116, tờ bản đồ số 247-C-1 do gia đình bà C quản lý, sử dụng và thửa đất số 115, tờ bản đồ số 247-C-1 do gia đình ông T, bà N đang quản lý, sử dụng đều đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hai gia đình đã sử dụng từ những năm 1980. Năm 1985 gia đình bà C xây nhà ở, đến năm 1991 ông T xây nhà ở. Đến năm 2017, ông T sửa nhà và xây tường bao ngăn ranh giới giữa hai thửa đất nhưng các bên đều không có tranh chấp. Đến năm 2021, bà C có ý định phân thửa đất thành các lô đất để cho các con, khi địa chính xuống khảo sát đo đạc hiện trạng hai thửa đất thì hai gia đình mới xảy ra tranh chấp. Lý do: Ông T cho rằng gia đình bà C đã lấn sang đất của gia đình ông T. Ranh giới giữa thửa đất của bà C và thửa đất của ông T hiện đã được ngăn cách một phần bởi nhà ở, lán và tường bao do các bên đã xây dựng. Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 14/01/2025, thể hiện: Tại vị trí giáp ranh giữa hai thửa đất số 115 và số 116, tờ bản đồ số 247-C-1 tại phần hai bên đã xây nhà ở và tường bao thì bà C lấn sang phần đất của ông T là: 0,3m² giới hạn bởi các mốc 10, 12, 13, 14, 10. Còn ông T, bà N đang sử dụng đất lấn sang đất bà C: 0,8m², giới hạn bởi các mốc 14, 15a, 16, 15, 14. Tuy nhiên, đối với phần giáp ranh giữa hai thửa đất đã được xác định bằng các công trình xây dựng, bà C, ông T xác định không có tranh chấp, tôn trọng hiện trạng và đề nghị Toà án xác định là ranh giới giữa hai thửa đất nên mặc dù các bên có sử dụng đất lấn sang phần diện tích đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của nhau thì cũng không đặt vấn đề giải quyết mà cần tôn trọng quan điểm hai bên đã thống nhất về vấn đề này. Còn đối với phần giáp ranh giữa hai thửa đất chưa có công trình xây dựng là vị trí các bên đang tranh chấp (được mô tả tại Sơ đồ hiện trạng ngày 14/01/2025) có diện tích 0,5m², bà C cho rằng là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình bà C, còn ông T cho rằng thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông T. Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 14/01/2025, thể hiện: Diện tích đang tranh chấp là 0,5m² giới hạn bởi các mốc: 16a, 4, 5, 16a, xác định được phần diện tích đất này thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông T và bà N. Bản án sơ thẩm xác định ranh giới giữa hai thửa đất là một đường thẳng kéo dài “từ điểm 4 đến điểm 9 theo hiện trạng các công trình hai bên xây dựng, được giới hạn bởi các mốc 4, 18, 17, 15, 12, 11, 10 và 9 (từ điểm đầu giáp ranh hai thửa đất đến điểm cuối giáp ranh hai thửa đất)” (theo sơ đồ hiện trạng ngày 01/8/2024 kèm theo bản án sơ thẩm) mà chưa xác định diện tích đất tranh chấp này thuộc về quyền sử dụng của đương sự nào là chưa chính xác, không phù hợp với hiện trạng thực tế hai thửa đất. Do vậy, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C về việc xác định diện tích đất tại vị trí tranh chấp này là của bà C, cần xác định lại ranh, mốc giới giữa hai thửa đất theo phân tích trên.
- [8.2] Bản án sơ thẩm cũng nhận định: “Như vậy phần mái tôn quán ông T đã xây đúng với không gian đất phía trên của phần đất ông T được quyền sử dụng và không lấn sang đất nhà bà C. Do đó, theo quy định tại các Điều 175, 176 Bộ luật Dân sự không có cơ sở để buộc ông T phải tháo dỡ phần mái tôn xây dựng đè lên mái nhà bà C” là có căn cứ nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C về việc buộc ông T, bà N tháo dỡ phần mái tôn đã lợp chùm lên mái nhà của bà C. Tuy nhiên bản án sơ thẩm buộc ông T phải lắp đặt đường ống dẫn nước chạy dọc theo mái tôn của nhà ông T để thoát nước mưa là không đúng. Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm ông T đồng ý tự nguyện lắp đặt đường thoát nước mưa chạy dọc theo mái tôn của nhà ông T để không làm ảnh hưởng đến gia đình bà C thì cần ghi nhận sự tự nguyện này của ông T.
- [8.3] Đối với chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tại giai đoạn sơ thẩm là 6.860.000 đồng, do yêu cầu khởi kiện của bà C không được chấp nhận nên bà C phải chịu khoản tiền này. Bản án sơ thẩm buộc ông T phải chịu 3.430.000 đồng và buộc ông T phải trả cho bà C số tiền này là không đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên cần sửa về nội dung này. Bà C đã nộp đủ số tiền này.
- [8.4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận một phần kháng cáo của bà C sửa một phần bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về án phí:
- [9.1] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn – bà C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do bà C là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên cần miễn án phí cho bà C theo quy định tại Điều 146, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 26, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- [9.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị sửa nên bà C không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- [10] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tại giai đoạn phúc thẩm: Nguyên đơn – bà C phải chịu. Bà C đã nộp số tiền 5.000.000 đồng cho Công ty TNHH T2. Bà C đã nộp đủ nên không đặt vấn đề giải quyết – các Điều 156, khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn – bà Đoàn Thị C;
Sửa một phần bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào Điều 166 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 26, Điều 236 của Luật Đất đai năm 2024;
Căn cứ vào các Điều 163, 164, 166, 175, 176 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào Điều 146, Điều 147, khoản 2 Điều 148, Điều 156, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Xử:
- 2.1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị C về việc: Xác định phần diện tích đất 0.5m² được giới hạn bởi các mốc 16a, 4, 5, 16a thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Đoàn Thị C;
- 2.2. Xác định ranh giới giữa thửa đất số 115 (đã được cấp giấy chứng nhận đứng tên chủ sử dụng ông Bùi Văn T và bà Ngô Thị N) và thửa đất số 116 (đã được cấp giấy chứng nhận đứng tên chủ sử dụng bà Đoàn Thị C) cùng tờ bản đồ số 247-C-1 là đường thẳng kéo dài từ mốc 5 đến mốc 12, giới hạn bởi các mốc: 12, 14, 15, 16, 16a, 5. (có sơ đồ kèm theo)
- 2.3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị C về việc: Buộc ông Bùi Văn T, bà Ngô Thị N phải tháo dỡ phần mái tôn lợp chùm lên mái nhà của bà Đoàn Thị C.
- 2.4. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Bùi Văn T, bà Ngô Thị N về việc lắp đặt đường thoát nước mưa chạy dọc mái tôn của gia đình ông Bùi Văn T, bà Ngô Thị N.
- 3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Đoàn Thị C.
- 4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Đoàn Thị C không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
- 5. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Bà Đoàn Thị C phải chịu 6.860.000 đồng (tại giai đoạn sơ thẩm) và 5.000.000 đồng (tại giai đoạn phúc thẩm). Bà Đoàn Thị C đã nộp đủ số tiền này.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Phương |
12
Bản án số 16/2025/DS-PT ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 16/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đoàn Thị Chờ - Bùi Văn Trọng
