Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN ĐỐNG ĐA

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HS-ST.

Ngày: 11/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐÓNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Xuân Hường;

Ông Nguyễn Phan Anh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga – Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Như Quỳnh– Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 411/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 438/2023/HSST – QĐ ngày 21/12/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Viết Đ, sinh 1981; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: thôn Đ, xã P, huyện C, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Nguyễn Viết C (chết); Con bà: Trần Thị M, sinh 1947; Vợ: Đỗ Thị Y, sinh 1984; D chỉ bản số [...] lập ngày 08/11/2023 tại Công an quận Đ, Hà Nội; Tiền án tiền sự: không.

Tạm giam từ ngày 07/11/2023 tại Nhà tạm giữ - Công an quận Đ (có mặt tại phiên tòa).

Người bị hại: Chị Trần Thị Hà M1, sinh 1987. Trú tại: Khu B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Hòa Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 12/01/2023 Cơ quan CSĐT Công an quận Đ đã tiếp nhận và giải quyết nguồn tin về tội phạm của chị Trần Thị Hà M1 (Sinh năm: 1987; Trú tại: Khu B Thị trấn K, huyện K, tỉnh Hòa Bình) tố giác Công ty cổ phần P – Địa chỉ: E Q, Đ, Hà Nội do ông Nguyễn Viết Đ (Trưởng phòng tuyển dụng), ông Phạm Xuân Đ1 (nhân viên tuyển dụng) có hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 5.000 USD thông qua việc xin cấp visa đi xuất khẩu lao động tại Canada ngày 24/12/2020, qua điều tra xác định được:

Khoảng tháng 9/2020, thông qua bạn bè giới thiệu, chị M1 biết được Công ty Cổ phần P (sau đây gọi tắt là Công ty P) có khả năng làm thủ tục cho người đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài và chị M1 biết Phạm Xuân Đ1 (chưa xác định được nhân thân) là nhân viên tư vấn về vấn đề xuất khẩu lao động. Do có nhu cầu đi xuất khẩu lao động tại Canada nên chị M1 đã liên hệ với Phạm Xuân Đ1 và được Đ1 giới thiệu biết Nguyễn Viết Đ là trưởng phòng tuyển dụng của Công ty P có thể giúp chị M1. Ngày 24/12/2020, Đ1 dẫn chị M1 đến gặp Nguyễn Viết Đ tại một quán cà phê ở khu vực gần sân vận động M2, sau bến xe M thuộc quận N, Hà Nội (không xác định được địa chỉ cụ thể). Tại đây, Đ1 giới thiệu chị M1 có nhu cầu muốn đi xuất khẩu lao động tại Canada và nhờ Đ giúp. Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên Đ đã nói dối, giới thiệu là trưởng phòng tuyển dụng của Công ty P có khả năng đưa người đi xuất khẩu lao động tại Canada. Tổng chi phí là 5.000 USD và phải đặt cọc trước 1.500 USD và khi làm thủ tục xin visa tại Đại sứ quán C1 thì phải nộp nốt 3.500 USD, sau 04 tháng kể từ khi đặt cọc tiền sẽ được đi xuất khẩu lao động tại Canada. Chị M1 đã tin tưởng đồng ý và đã nộp tiền đặt cọc 1.500 USD cùng một bộ hồ sơ (gồm bản gốc Hộ chiếu, các bản công chứng sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân, 10 ảnh chân dung 4x6cm) cho Đ. Đồng thời, Đ đã lập 01 “Giấy cam kết nhận hồ sơ và tiền cọc của lao động” ngày 24/12/2020 có nhận số tiền cọc 1.500 USD (tương đương với 35.515.000 đồng) và một bộ hồ sơ đi xuất khẩu lao động tại Canada của chị Trần Thị Hà M1. Nguyễn Viết Đ đã ký tên đại diện cho bên A là Công ty Cổ phần P với chức vụ là trưởng phòng tuyển dụng của công ty, còn Phạm Xuân Đ1 ký tên bên B đại diện cho người lao động và đưa bản phô tô giấy cam kết này cho chị M1. Đến ngày 05/02/2021, Đ đón chị M1 tại bến xe M rồi chở đến tòa nhà I, địa chỉ: B Đê L, phường L, Đ, Hà Nội. Đại đưa hồ sơ và hướng dẫn chị M1 đi lên tầng 2 tòa nhà Hong Kong T (phía sau tòa nhà ICON 4) để nộp hồ sơ xin visa của Đại sự quán C2. Tại Đại sự quán Canada chị M1 tự làm thủ tục nộp hồ sơ, lăn tay, chụp ảnh, chụp vân mắt. Sau đó, chị M1 quay ra gặp Đ, Đ bảo chị M1 đưa số tiền 3.500 USD (tương đương với 80.080.000 đồng) tại khu vực hành lang từ nhà để xe lên sảnh của tòa nhà ICON 4 và đưa cho chị M1 01 bản viết giấy than tờ Phiếu thu số tiền trên do Đ viết sẵn từ trước. Đ chở chị M1 về bến xe M để M1 tự thuê xe về nhà. Khi hết thời hạn cam kết, chị M1 đã nhiều lần liên hệ điện thoại cho công ty P, Đ và Đ1 để đốc thúc nhưng không có kết quả nên đã yêu cầu Đ trả lại số tiền 5.000 USD. Đến ngày 19/9/2022 Đ chuyển khoản trả chị M1 số tiền 50.000.000 đồng, chị M1 tiếp tục đòi nốt số tiền còn lại nhưng không được nên ngày 12/01/2023 chị M1 đã gửi đơn trình báo đến Công an quận Đ. Tổng số tiền chị M1 đã đưa cho Đ là 5.000 USD tương đương với 115.595.000 đồng.

Vật chứng thu giữ của chị Trần Thị Hà M1 gồm:

  • - 01 Phiếu thu (giấy màu hồng) có nội dung: Họ tên người nộp tiền: Trần Thị Hà M1; Địa chỉ: K, Hòa Bình; Lý do nộp: Cọc làm visa Canada; Số tiền: 3.500 USD; Người lập: có ký tên.
  • - 01 bản phô tô “Giấy cam kết nhận hồ sơ và tiền cọc của lao động” ngày 24/12/2020.

Theo Kết luận giám định số 3370/KL-KTHS ngày 01/6/2023 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận: Chữ viết phần nội dung; Chữ ký dưới mục “Người lập” trên mẫu cần giám định (Ký hiệu A - Phiếu thu) với chữ viết, chữ ký đứng tên Nguyễn Viết Đ trên các mẫu so sánh (Ký hiệu M1, M2) là chữ do cùng một người viết và ký ra.

Cơ quan điều tra đã xác minh Công ty cổ phần P1 (gọi tắt là Công ty P) có Giấy chứng nhận đăng ký doanh doanh nghiệp công ty cổ phần do Sở kế hoạch và Đầu tư thành phố H cấp lần đầu ngày 10/08/2007, thay đổi lần thứ 6 ngày 28/01/2016; Địa chỉ trụ sở chính: Tầng A, số E phố Q, phường V, Đ, Hà Nội; Giám đốc: ông Chu Đức B (Sinh năm 1977; HKTT: SỐ A, TT Công ty X, phố N, phường Đ, B, Hà Nội. Công ty P1 được Bộ L - Thương binh xã hội cấp giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài số 835/LĐTBXH-GP ngày 06/06/2016. Tuy nhiên, Công ty P1 không đưa người lao động đi làm việc tại Canada và không ký hợp đồng lao động hay hợp tác với Nguyễn Viết Đ, Phạm Xuân Đ1. Công ty P1 không ký hợp đồng và nhận tiền đặt cọc của chị Trần Thị Hà M1, không tiếp nhận hồ sơ của chị M1 từ các bên khác.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Viết Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Số tiền chiếm đoạt được của chị M1, Đ đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Sau khi chị M1 làm đơn trình báo gửi cơ quan công an, từ ngày 07/3/2023 đến ngày 28/3/2023, Nguyễn Viết Đ đã 04 lần chuyển khoản tiếp tục trả lại tiền cho chị M1 tổng cộng 65.000.000 đồng. Hiện Đ2 đã trả lại cho chị M1 tổng số tiền là 115.000.000 đồng, chị M1 không có yêu cầu bồi thường gì khác.

Đối với đối tượng Phạm Xuân Đ1, cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự để tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý theo quy định pháp luật.

Cáo trạng số 399/CT-VKS ngày 27/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã quyết định truy tố Nguyễn Viết Đ tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c, khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo khai như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận hành vi do mình thực hiện là phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa phát biểu: Viện kiểm sát luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c, khoản 2 Điều 174; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo từ 30 đến 34 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn tử thách 60 tháng.

Buộc bị cáo phải truy nộp số tiền hưởng lợi bất chính 595.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, qua xét hỏi, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, chứng cứ và các tài liệu khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Do cần tiền chi tiêu cá nhân, thông qua đối tượng Phạm Xuân Đ1 (chưa xác định được nhân thân), Nguyễn Viết Đ đã có hành vi gian dối là nói với chị Trần Thị Hà M1 mình là trưởng phòng tuyển dụng của Công ty cổ phần P1 có khả năng đưa người đi xuất khẩu lao động tại Canada để chị M1 tin tưởng đưa tiền cho Đ. Bị cáo đã chiếm đoạt của chị M1 tổng số tiền 5.000 USD (tương đương với 115.595.000 đồng), cụ thể 2 lần như sau:

  • -Lần 1: Ngày 24/12/2020 chị M1 đưa cho Đ 1.500 USD tại một quán cà phê (không xác định được địa chỉ cụ thể) ở khu vực gần sân vận động M2, sau bến xe M thuộc quận N, Hà Nội.
  • -Lần 2: Ngày 05/02/2021 chị M1 đưa cho Đ 3.000 USD tại hành lang tòa nhà ICON 4, địa chỉ: B Đê L, phường L, Đ, Hà Nội.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự. Bị cáo chiếm đoạt của người bị hại tổng số tiền 115.595.000 đồng nên buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm c, khoản 2, Điều 174 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội và gây bất bình trong nhân dân nên cần phải được xử lý nghiêm minh theo quy định.

Với tính chất hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét: Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã bồi thường khắc phục hậu quả, nhân thân chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự cũng đủ điều kiện cải tạo giáo dục và phòng ngừa chung.

Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Viết Đ nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho chị Trần Thị Hà M1 - người bị hại 115.000.000 đồng. Chị M1 không có yêu cầu bồi thường gì khác.

Số tiền 595.000 đồng bị cáo hưởng lợi bất chính cần buộc bị cáo phải truy nộp để sung công quỹ Nhà nước.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

1. Căn cứ vào điểm c, khoản 2, Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết Đ 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao các bị cáo Đ cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

2/ Áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Viết Đ nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

3. Căn cứ vào: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Dân sự: Không.

Buộc bị cáo phải truy nộp số tiền 595.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Nơi nhận :

  • Bị cáo; Người bị hại;
  • VKSND quận Đ;
  • - VKSND thành phố H;
  • - TAND thành phố H;
  • - Công an quận Đ;
  • - Chi cục THADS Q.Đ;
  • - Lưu HS - VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị An.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 16/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Viết Đ lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger