Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HNGĐ-PT

Ngày 10-7-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Tuyến

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Kiên

Bà Trần Thị Vân Thúy

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thu Huệ - Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 11/2024/TLPT-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.

Do Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 17/2024/QĐ-PT ngày 28 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1975, nơi ĐKHKTT: Số A Chùa H, phường H, Quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số A Chùa H, phường H, Quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Ông Vũ Quốc H1, sinh năm 1975, nơi ĐKHKTT: Số H Chùa H, phường D, Quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số A Chùa H, phường H, Quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người kháng cáo: Ông Vũ Quốc H1 là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 25/9/2023 và các lời khai của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thu H trình bày :

Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Vũ Quốc H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện từ năm 2001, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận L, thành phố Hải Phòng ngày 08/11/2007. Đến nay có hai con chung.

Quá trình chung sống: Vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn từ năm 2012. Nguyên nhân do ông H1 có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác nên cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng. Việc ông H1 ngoại tình không chỉ một lần mà nhiều lần, công khai. Hai bên thường xảy ra cãi vã, xô xát. Bà H đã từng phải mời gia đình và tổ dân phố chứng kiến việc bị ông H1 đánh đập, gây mất trật tự xóm phố. Ông H1 cũng nhiều lần xin lỗi mong bà bỏ qua nhưng sau đó lại tiếp diễn việc quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Quá trình Tòa án giải quyết ly hôn đã nhiều lần động viên, hòa giải cho hai bên nhưng ông H1 không thay đổi, cuộc sống vợ chồng vẫn không thể hàn gắn. Nay bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng không còn khả năng đoàn tụ, bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà ly hôn ông H1.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Vũ Ngọc T, sinh ngày 09/7/2002 và Vũ Quang Đ, sinh ngày 07/10/2014. Nay con chung Vũ Ngọc T đã thành niên nên bà không đề nghị gì. Đối với con chung Vũ Quang Đ, bà H đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được nuôi con Vũ Quang Đ đến khi thành niên, việc cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn, ông Vũ Quốc H1 trình bày:

Ông H1 đồng ý với trình bày của bà H về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn, con chung và mâu thuẫn vợ chồng. Ông thừa nhận có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, nhưng chưa bao giờ ông có ý định từ bỏ gia đình vợ con. Ông khẳng định vẫn là người có trách nhiệm với gia đình. Một vài năm gần đây do kinh tế khó khăn nên ông tạm thời chưa chu cấp đầy đủ cho các con. Ông vẫn mong muốn được bà H bỏ qua và Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Trường hợp bà H cương quyết xin ly hôn thì ông cũng phải đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Vũ Ngọc T, sinh ngày 09/7/2002 và Vũ Quang Đ, sinh ngày 07/10/2014. Con lớn Vũ Ngọc T đã thành niên nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Đối với con Vũ Quang Đ, từ trước đến nay bà H vẫn chăm sóc con, nên nếu ly hôn ông H1 đồng ý giao con cho bà H nuôi dưỡng đến khi con thành niên. Việc cấp dưỡng nuôi con chung hai bên tự thỏa thuận.

Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án, ông H1 có đơn yêu cầu Toà án giải quyết vấn đề tài sản chung vợ chồng. Toà án yêu cầu ông H1 cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp nhưng ông H1 không cung cấp gì thêm và có đơn đề nghị Toà án dừng việc xét xử vụ án để các bên tự thu xếp phần tài sản. Tại phiên toà, ông H1 trình bày hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 51, 56; 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Thu H được ly hôn ông Vũ Quốc H1.

- Về con chung: Giao con Vũ Quang Đ, sinh ngày 07/10/2014 cho bà Nguyễn Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung hai bên tự thỏa thuận.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 23/4/2024, ông Vũ Quốc H1 kháng cáo, không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm cho vợ chồng bà được đoàn tụ.

Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên yên cầu kháng cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tại phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung kháng cáo: Mâu thuẫn giữa bà Nguyễn Thị Thu H và ông Vũ Quốc H1 đã kéo dài nhiều năm. Mặc dù đã nhiều lần vợ chồng hòa giải nhưng mâu thuẫn vẫn thường xuyên xảy ra. Ông H1 không đồng ý ly hôn và mong muốn vợ chồng đoàn tụ, tuy nhiên mâu thuẫn giữa vợ chồng đã kéo dài nhiều năm nhưng ông H1 không có giải pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy, Tòa án sơ thẩm xử cho bà H được ly hôn với ông H1 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Do vậy, không có căn cứ chấp kháng cáo của ông Vũ Quốc H1. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Vũ Quốc H1, giữ nguyên bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 17/4/2024 của Toà án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn kháng cáo. Xét kháng cáo của bị đơn trong thời hạn luật định, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng thụ lý xét xử phúc thẩm vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

[2] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: Người kháng cáo, ông Vũ Quốc H1 chỉ kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm về quan hệ hôn nhân, ông H1 không đồng ý với quyết định của Bản án sơ thẩm về việc bà Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với ông H1. Do vậy, căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chỉ xem xét phần bản án sơ thẩm về quan hệ hôn nhân

- Về nội dung:

[3] Căn cứ lời khai của hai bên đương sự và tài liệu xác minh của Tòa án cấp sơ thẩm, xác định mâu thuẫn giữa bà Nguyễn Thị Thu H và ông Vũ Quốc H1 đã kéo dài nhiều năm được thể hiện qua việc, từ năm 2012 ông H1 đã từng có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, từ đó dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng. Mặc dù mâu thuẫn giữa vợ chồng đã được hòa giải nhưng không được giải quyết mà lại càng ngày càng trở lên trầm trọng. Ông H1 không đồng ý ly hôn và mong muốn vợ chồng đoàn tụ, tuy nhiên mâu thuẫn giữa vợ chồng đã kéo dài nhiều năm nhưng ông H1 không có giải pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Lý do ông H1 không đồng ý lý hôn không phải xuất phát từ tình cảm vợ chồng mà vì muốn giữ gia đình cho các con và danh dự cho gia đình hai bên.

[3] Xét, tình trạng mâu thuẫn giữa bà H và ông H1 đã kéo dài, vợ chồng không còn thương yêu, tôn trọng lẫn nhau, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H và xử cho bà Nguyễn Thị Thu H được ly hôn ông Vũ Quốc H1 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[4] Từ các nhận định trên thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Vũ Quốc H1, giữ nguyên Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

[5] Các quyết định khác của bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo của ông Vũ Quốc H1 không được chấp nhận nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 148, khoản 1 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 15, điểm a khoản 5 Điều 27, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Không chấp nhận kháng cáo của ông Vũ Quốc H1.

Giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu H được ly hôn ông Vũ Quốc H1.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm: Ông Vũ Quốc H1 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003262 ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại Chi Cục thi hành án dân sự Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

3. Các quyết định khác của Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 18/2024/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Nguyễn Quang Kiên Trần Thị Vân Thúy Nguyễn Xuân Tuyến

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Xuân Tuyến

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - TAND Quận Lê Chân, Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HNGĐ-PT ngày 10/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 16/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, y án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger