Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 16/2023/HS-PT

Ngày: 10-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Phong.

Các thẩm phán: Bà Võ Thị Thanh Phượng;

Bà Bùi Lan Hương.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Du – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Sương – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 487/2023/TLPT-HS ngày 07 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo Bùi Duy T, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 215/2023/HS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Bùi Duy T, sinh năm 1983, tại: Cần Thơ. Nơi cư trú: Tổ G, khu phố M, phường P, B, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Thanh S và bà Trần Thị Tuyết N. Bị cáo có vợ và 01 con sinh năm 2002;

Tiền án: 02, cụ thể:

  • + Ngày 14/5/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 202/2019/HSST.
  • + Ngày 27/10/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 404/2021/HS-ST.

Tiền sự: 01, cụ thể: Ngày 14/02/2019, bị Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Nhân thân:

  • + Ngày 23/11/2001, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo theo bản án số 367/HSST.
  • + Ngày 21/6/2010, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 119/2010/HSST.
  • + Ngày 18/7/2014, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 132/2014/HS_ST.

Bị cáo bị giam giữ từ ngày 24/3/2023 (Có mặt).

Ngoài ra, vụ án còn có bị hại nhưng không có kháng cáo và không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Minh HBùi Duy T là bạn bè, do không có tiền tiêu xài nên H rủ T đi trộm cắp tài sản, T đồng ý. Khoảng 14 giờ ngày 19/3/2023, T điều khiển xe môtô biển số 52P4 - 2988 đến phòng trọ của H thuê ở khu phố B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai chờ H đi xuống khu vực huyện T, tỉnh Đồng Nai xem ai có sơ hở thì trộm cắp tài sản. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, khi HT đi chuyển trên quốc lộ A thì thấy nhà anh Vũ Lâm Ngọc H1 tại ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai không khóa cửa, trong nhà có 01 chiếc xe môtô hiệu Honda SH 150i biển số 60V8- 4444 cắm sẵn chìa khóa và không có người trông coi nên T điều khiển xe mô tô đi qua nhà anh H1 khoảng 15 mét thì dừng lại cảnh giới để H đi bộ vào nhà trộm cắp chiếc xe biển số 60V8- 4444 rồi cùng nhau tẩu thoát. T điều khiển xe mô tô đi về nhà tại phường P, thành phố B, H điều khiển xe mô tô SH trộm cắp được đi về phường H, thành phố B thì bỏ biển số 60V8-4444 và lắp biển số 60G-065.47 vào xe SH rồi đem xe đi gửi tại bãi giữ xe không tên ở phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Đến khoảng 10 giờ ngày 20/3/2023, H rủ bạn gái là Trần Thị Quỳnh N1 đi cùng đến bãi giữ xe để H lấy chiếc xe SH trộm cắp được đem về phòng trọ, lúc này N1 biết rõ chiếc xe mô tô SH là do H trộm cắp mà có. H gọi cho Nguyễn Duy P để bán chiếc xe mô tô SH, P biết nguồn gốc xe SH là do H trộm cắp được nhưng vẫn đồng ý mua lại với giá 11.500.000 đồng. Khoảng 18 giờ cùng ngày, N1 đi cùng H đến nhà P tại khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để H bán xe mô tô SH cho P và nhận trước số tiền 2.000.000 đồng, rồi N1 chở H về. Khoảng 02 giờ sau, HN1 đi đến nhà P lấy số tiền bán xe trộm cắp còn lại rồi đến nhà T. H chia cho T số tiền 4.500.000 đồng, còn H hưởng 7.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền trên HT đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 24/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Trương Minh H, Bùi Duy TNguyễn Duy P. Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150i, số khung ZDCKF08A06F077043, số máy KF08E0056476KTGE1 gắn biển số 60G1-065.47 và 01 xe mô tô biển số 52P4-2988.

(Thề hiện tại các bút lục: tự khai, lời khai, bản cung của H bút lục 99-107; tự khai, lời khai, bản cung của T bút lục 123-131; tự khai, lời khai, bản cung của P bút lục 154-163; tự khai, lời khai, bản cung của Q bút lục 166-173).

Tại bản kết luận số 31/KL-HĐĐGTS ngày 31/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150i biển số 60V8-4444, số máy KF08E0056476KTGE1, số khung ZDCKF08A06F077043 xe đã qua sử dụng. Được thẩm định là: 52.000.000đ (năm mươi hai triệu đồng).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Trương Minh H, Bùi Duy T, Nguyễn Duy PTrần Thị Quỳnh N1 để điều tra. Quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại bản án sơ thẩm số 215/2023/HS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tuyên xử:

Tuyên bố bị cáo Trương Minh H, Bùi Duy T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Nguyễn Duy P, Trần Thị Quỳnh N1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt bị cáo Trương Minh H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 24/3/2023.

Xử phạt bị cáo Bùi Duy T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 24/3/2023.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy P 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 24/3/2023.

Xử phạt bị cáo Trần Thị Quỳnh N1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị áp giải thi hành án phạt tù.

Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Trương Minh H phải nộp số tiền 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng), bị cáo Bùi Duy T phải nộp số tiền 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 02 tháng 10 năm 2023, bị cáo Bùi Duy T có đơn kháng cáo đề nghị xem xét giảm hình phạt cho bị cáo.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:

Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo phù hợp về nội dung, hình thức và trong thời hạn nên xem xét giải quyết.

Về nội dung kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điểm a, khoản 1, Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Duy T giữ nguyên bản án sơ thẩm số 215/2023/HS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng sơ thẩm và phúc thẩm đều thực hiện đầy đủ, trình tự thủ tục theo quy định pháp luật. Kháng cáo của bị cáo, trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
  2. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Duy T không thừa nhận toàn bộ hành vi của mình theo đúng nội dung vụ án nêu trên bị cáo cho rằng bị cáo bị oan.
  3. Về nội dung vụ án: Khoảng 14 giờ ngày 19/3/2023, tại nhà anh Vũ Lâm Ngọc H1 ở ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Trương Minh HBùi Duy T (có 02 tiền án chưa được xóa án tích) đã lén lút trộm cắp của anh Vũ Lâm Ngọc H1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150i biển số 60V8-4444 đã qua sử dụng, trị giá 52.000.000 đồng. Trần Thị Quỳnh N1 biết rõ xe mô tô 60V8-4444 do H trộm cắp nhưng vẫn giúp H đem xe đi tiêu thụ. Nguyễn Duy P biết rõ xe mô tô 60V8-4444 do H trộm cắp nhưng vẫn mua lại với giá 11.500.000 đồng.
  4. Xét kháng cáo của bị cáo Bùi Duy T:

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Bùi Duy T không thừa nhận hành vi của mình. Tuy nhiên căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của các bị cáo khác, đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Duy T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c,g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên án.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, bị cáo là người có nhân thân xấu và đã bị Tòa án xét xử nhiều lần về các tội “Trộm cắp tài sản”, “Cưỡng đoạt tài sản”, “Cướp giật tài sản”, hiện bị cáo đang còn 02 tiền án và 01 tiền sự chưa được xoá án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa đổi bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội. Vì vậy bản án số 215/2023/HS-ST ngày 26/9/2023 xử phạt bị cáo Bùi Duy T 03 năm tù là phù hợp. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo kêu oan nhưng không cung cấp được chứng cứ nào để chứng minh cho lời khai của mình và cũng không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào đặc biệt mới; Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  1. Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với quan điểm của hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
  2. Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm a, Khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng Hình sự 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Duy T giữ nguyên bản án sơ thẩm số 215/2023/HS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

Áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Bùi Duy T phạm tội “Trộm cắp tài sản” xử phạt bị cáo Bùi Duy T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/3/2023.
  2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Buộc bị cáo Bùi Duy T phải nộp số tiền 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách nhà nước.
  3. Bị cáo Bùi Duy T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm số 215/2023/HS-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật sau khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Văn phòng Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom; (02)
  • - Công an huyện Trảng Bom;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Trảng Bom;
  • - UBND xã (phường) nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thanh Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2023/HS-PT ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 16/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Duy Thanh phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger