Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HNGĐ-ST

Ngày 08-05-2024

V/v “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Thanh Quyên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thanh Hiền

2. Ông Đào Mạnh Tiến

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà:

Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên

Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 82/2024/TLST-HNGĐ ngày 29/03/2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/4/2024, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 2005 (Có mặt).
  • Địa chỉ: Xóm N, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
  • * Bị đơn: Anh Ngô Anh T, sinh năm 2003 (Xin xét xử vắng mặt).
  • HKTT: Số A, đường Y, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo khởi kiện đề ngày 21/03/2024 và bản tự khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:

- Về quan hệ vợ chồng: Chị và anh Ngô Anh T kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang ngày 07/11/2023. Sau khi đăng ký kết hôn thì hai bên gia đình có tổ chức lễ cưới cho vợ chồng chị theo phong tục địa phương. Sau khi cưới, chị về làm dâu gia đình nhà anh T ngay. Quá trình chung sống do vợ chồng không tìm hiểu nhau kỹ nên trong sinh hoạt, giao tiếp hàng ngày vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung. Chị đã về nhà bố mẹ đẻ sau khi kết hôn được một thời gian ngắn. Sau khi chị về nhà bố mẹ đẻ ở thì hai bên gia đình có động viên, khuyên nhủ vợ chồng về ở với nhau nhưng chị thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống. Đến nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, không liên hệ gì với nhau nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

- Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản ghi lời khai có trong hồ sơ, bị đơn anh Ngô A T trình bày:

- Về quan hệ vợ chồng: A và chị Nguyễn Thị L kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn với nhau tại UBND phường N, thành phố B ngày 07/11/2023. Sau khi kết hôn chị L về làm dâu gia đình nhà anh ngay và vợ chồng chung sống cùng bố mẹ anh tại số nhà A, đường Y, phường N, thành phố B. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên sau khoảng 02 tuần thì chị L bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở. Lý do chị L về nhà bố mẹ đẻ ở là do vợ chồng chung sống không hợp nhau, mâu thuẫn về lối sống, quan điểm sống. Sau khi xảy ra mâu thuẫn 2 bên gia đình cũng đã nhiều lần hoà giải nhưng vợ chồng anh vẫn không tìm được tiếng nói chung. Nay chị L xin ly hôn, anh xác định tình cảm không còn nên đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Anh xác định vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị L vẫn giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện của mình. Chị xác định chị và anh T sống ly thân từ tháng 12/2023 cho đến nay, không ai còn quan tâm tới ai nên đề nghị được ly hôn anh T. Về con chung, tài sản chung và công nợ chị xác định không có nên không yêu cầu giải quyết. Anh T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử công bố lời khai của anh T. Chị L không có ý kiến gì.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật trong suốt quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử. Việc chấp hành phát luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  • + Về quan hệ vợ chồng: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Ngô Anh T.
  • + Về con chung, về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Không đặt ra xem xét giải quyết.
  • + Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Chị Nguyễn Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Ngô Anh T. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, cụ thể là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền: Tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Ngô Anh T có hộ khẩu thường trú và nơi ở tại số A, đường Y, phường N, thành phố B nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Ngô Anh T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ vợ chồng: Chị Nguyễn Thị L và anh Ngô Anh T kết hôn ngày 07/11/2023 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Chị L đã cung cấp được giấy chứng nhận kết hôn bản gốc nên quan hệ hôn nhân giữa chị L, anh T là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ, phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Quá trình giải quyết vụ án, chị L anh T đều xác định cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, đến nay đã trở nên trầm trọng và sống ly thân nhau từ lâu, không ai còn quan tâm tới ai. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị L, anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị L xin ly hôn, anh T nhất trí. Việc nhất trí ly hôn của chị L, anh T là hoàn toàn tự nguyện nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L.

[2.2] Về con chung: Chị L, anh T không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị L, anh T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án để buộc chị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

[2.5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử cần tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  2. Xử:
    1. Về quan hệ vợ chồng: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Ngô Anh T.
    2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0001673 ngày 29/03/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị L đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
    3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
    4. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Bắc Giang,
  • - CCTHADS TP. Bắc Giang,
  • - Các đương sự,
  • - UBND phường Ngô Quyền;
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lương Thị Thanh Quyên

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HNGĐ-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 16/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị L xin ly hôn anh Ngô Anh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger