TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 16/2024/HNGĐ-ST Ngày 08/5/2024 V/v hôn nhân gia đình | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vương.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thúy và ông Phan Văn Tiến.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Diệu Thúy.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Long - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 12/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Số nhà B đường N, phố T, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình (Có mặt).
- Bị đơn: Anh Phạm Văn D, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Thôn H, xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình (Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa nguyên đơn chị Phạm Thị N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn D tự nguyện tìm hiểu, kết hôn với nhau vào ngày 17/3/2016, đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện T. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại tỉnh Ninh Bình. Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, vợ chồng không hiểu và thông cảm cho nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đến tháng 8 năm 2023 thì anh D chuyển về sinh sống tại xã M. Từ đó đến nay anh chị đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh D.
- Về con chung: Chị và anh D có một con chung là Phạm Thị Bích P, sinh ngày 28/7/2014. Anh chị đã chung sống với nhau như vợ chồng và có con chung trước khi kết hôn. Đến năm 2016, anh chị mới kết hôn và đăng ký khai sinh cho con chung. Ly hôn, chị có nguyện vọng nuôi con chung, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
- Về tài sản chung: Chị và anh D không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản lấy lời khai, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt cùng ngày 15/3/2024 anh Phạm Văn D trình bày:
- Về quá trình tìm hiểu kết hôn, chung sống, con chung và tài sản chung như chị N trình bày là đúng. Về nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng anh là do tính tình không hợp, vợ chồng không hiểu và thông cảm cho nhau. Đến giữa năm 2023 vợ chồng anh xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng căng thẳng, không còn hạnh phúc. Vợ chồng anh đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2023 đến nay. Nay chị N xin ly hôn anh, quan điểm của anh là không đồng ý ly hôn vì anh theo đạo Thiên chúa, không được phép ly hôn. Tuy nhiên chị N kiên quyết xin ly hôn thì anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Nếu phải ly hôn, quan điểm của anh về con chung là đồng ý giao con chung cho chị N nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung, cấp dưỡng nuôi con chung anh không đề nghị Tòa án giải quyết và anh xin vắng mặt khi Tòa án xét xử vụ án.
* Cháu Phạm Thị Bích P có đơn đề nghị được ở cùng mẹ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy phát biểu quan điểm tại phiên tòa:
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn đều tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật: áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83, 84, 88 Luật hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 238, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Xử cho chị Phạm Thị N ly hôn anh Phạm Văn D; Về quan hệ con chung: Giao cho chị Phạm Thị N trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phạm Thị Bích P, sinh ngày 28/7/2014; Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và các bên được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Anh Phạm Văn D có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt anh.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị N và anh Phạm Văn D tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 17/3/2016, đăng ký kết hôn tại UBND xã M. Tại thời điểm kết hôn, hai bên đủ điều kiện kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống cùng nhau đến tháng 8 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2023 đến nay. Tại phiên tòa, chị N giữ nguyên quan điểm xin ly hôn, anh D mặc dù không đồng ý ly hôn nhưng không có biện pháp để vợ chồng về đoàn tụ. Khi Tòa án báo gọi anh chị lên để hòa giải anh đều xin vắng mặt, chứng tỏ anh D không tha thiết việc đoàn tụ với chị N. Việc anh không đồng ý ly hôn chủ yếu là do anh theo đạo Thiên chúa, không được phép ly hôn không xuất phát từ việc anh còn thiết tha xin đoàn tụ. Từ những căn cứ trên, HĐXX thấy rằng tình trạng hôn nhân của chị N và anh D đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị N được ly hôn anh D là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về quan hệ con chung: Chị N và anh D đều thừa nhận trước khi kết hôn đã chung sống như vợ chồng và có một con chung Phạm Thị Bích P, sinh ngày 28/7/2014. Căn cứ Điều 88 Luật hôn nhân gia đình Hội đồng xét xử xác định cháu P là con chung của chị N và anh D. Ly hôn, chị N anh D và cháu P đều thể hiện quan điểm mong muốn giao cho chị N được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Xét thấy nguyện vọng của các đương sự phù hợp với quy định của Luật hôn nhân gia đình nên cần chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con chung, các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết, khi nào các đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
[4] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị N và anh D không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết. Khi nào các đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
[5] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án chị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo: Chị N và anh D có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật tại Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị N ly hôn anh Phạm Văn D.
- Về con chung: Chị N và anh D có một con chung Phạm Thị Bích P, sinh ngày 28/7/2014. Ly hôn giao cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng Phạm Thị Bích P. Anh D không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N. Anh D có quyền thăm nom chăm sóc con chung. Anh D, chị N có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Phạm Thị N phải chịu 300.000 đồng. Đối trừ số tiền 300.000 đồng chị N đã nộp tạm ứng áp phí theo biên lai thu số 0004077 ngày 01 tháng 02 năm 2024 sang tiền án phí, chị N đã thi hành xong.
- Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Phạm Văn D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Vương |
Bản án số 16/2024/HNGĐ-ST ngày 08/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 16/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị N và anh D thuận tình ly hôn
