Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH SƠN

TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HNGĐ-ST

Ngày 06/5/2024

V/v ly hôn, tranh chấp

về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đô.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Lan.
  2. Ông Bùi Tấn Ba.

Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quang Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Khôi - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 47/2023/TLST-HNGĐ ngày 30/10/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 08 tháng 4 năm 2024 giữa:

  1. Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Hải Y, sinh năm 1998; nơi cư trú: Đ, thôn L, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
  2. Bị đơn: Anh Tạ Đình V, sinh năm 1995; nơi cư trú: Xóm A, thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.

Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 14/9/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Hồ Thị Hải Y (sau đây viết tắt là chị Y) trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Tạ Đình V (sau đây viết tắt là anh V) tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 65, ngày 27/8/2018. Quá trình chung sống, giữa chị và anh V phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh V thường xuyên đánh bạc và uống bia rượu, không chăm lo cho gia đình; vợ chồng chị không còn chung sống, không quan tâm chăm sóc cho nhau và không khả năng đoàn tụ chung sống nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh V.

Về con chung: Giữa chị và anh V có 02 (hai) con chung là các cháu Tạ Hồ Nhã K, sinh ngày 28/11/2019 và Tạ Hồ Minh K1, sinh ngày 19/12/2022 (sau đây viết tắt là các cháu K, K1), hiện đang sinh sống cùng với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu K, K1; chị yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) đến khi các cháu K, K1 đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Tạ Đình V không trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Hải Y.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

- Việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Những người tiến hành tố tụng, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 21, 28, 35, 39, 144 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 9, 51, 56, 59, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Y, cho chị Y được ly hôn anh V; giao các cháu K, K1 cho chị Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; buộc anh V cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) cho đến khi con đủ 18 tuổi; chị Y và anh V không yêu cầu giải quyết tài sản chung và nợ chung nên không giải quyết; chị Y và anh V chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn là chị Y vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bị đơn là anh V vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[1.2] Anh V không có văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ nên căn cứ vào Điều 91 và Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 65, ngày 27/8/2018 của UBND xã B, kết quả xác minh tình trạng hôn nhân và trình bày của chị Y, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định chị Y và anh V xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ đúng quy định về điều kiện kết hôn, đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân giữa chị Y và anh V là hợp pháp.

[2.2] Quá trình giải quyết vụ án, anh V không có ý kiến trình bày hay phản đối các tình tiết, sự kiện mà chị Y trình bày về nguyên nhân và quá trình phát sinh mâu thuẫn giữa vợ chồng cũng như các vấn đề khác như đã nêu trên. Căn cứ quy định tại Điều 91 và Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì các tình tiết, sự kiện mà chị Y đưa ra không phải chứng minh. Ngoài ra, anh V không tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa thể hiện anh V không quan tâm, không có thiện chí hòa giải mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn giữa chị Y và anh V là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Y.

[2.3] Theo trình bày của chị Y và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định chị Y và anh V có 02 (hai) con chung là các cháu K, K1. Xét thấy, các cháu K, K1 hiện nay còn nhỏ, cần sự chăm sóc của người mẹ nhiều hơn và đang sinh sống ổn định cùng với chị Y, trong khi đó chị Y có đủ điều kiện, khả năng nuôi con và có yêu cầu được nuôi dưỡng các cháu K, K1. Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định giao các cháu K, K1 cho chị Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

[2.4] Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Trong vụ án này, chị Y có yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con nên cần buộc anh V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với cháu K, K1 mỗi cháu mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) tính từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi cháu K, K1 đủ 18 tuổi là phù hợp với khả năng thực tế của anh V như đã nêu và nhu cầu thiết yếu của cháu K, K1.

[2.5] Chị Y và anh V không yêu cầu giải quyết chia tài sản chung, trình bày không có nợ chung nên căn cứ quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết chia tài sản chung và nợ chung trong vụ án này.

[2.6] Chị Y và anh V mỗi người phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 147, 150 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[3] Ý kiến của Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 264, 266, 267, 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chị Hồ Thị Hải Y được ly hôn anh Tạ Đình V.
  2. Giao các cháu Tạ Hồ Nhã K, sinh ngày 28/11/2019 và Tạ Hồ Minh K1, sinh ngày 19/12/2022 cho chị Hồ Thị Hải Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh Tạ Đình V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
  3. Buộc anh Tạ Đình V có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với các cháu Tạ Hồ Nhã K và Tạ Hồ Minh K1 mỗi cháu mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng); thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 06/5/2024) cho đến khi các cháu Tạ Hồ Nhã K và Tạ Hồ Minh K1 đủ 18 tuổi.
  4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  5. Chị Hồ Thị Hải Y phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền chị Hồ Thị Hải Y đã nộp tạm ứng theo giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số [...] ngày 24/10/2023 thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia và theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001334 ngày 10/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
  6. Anh Tạ Đình V phải chịu án phí dân sự là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  8. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND huyện Bình Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Sơn;
  • - UBND xã Bình Trung;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Đô

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HNGĐ-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 16/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger