|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2024/HSST.
Ngày: 05-8-2024.
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Phước Trí.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Ngọc Ngân, bà Nguyễn Võ Phương Dung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Duy Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2024/HSST ngày 28 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-HS ngày 22 /7/2024, đối với bị cáo:
LÊ THÀNH P 1, sinh năm: 1967 tại Ninh Thuận
Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Nghề nghiệp: Lái xe ôm; Trình độ văn hoá: 02/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Thành X (đã chết) và bà Hồ Thị Kim L (đã chết), V: Nguyễn Thị H (đã chết). Con ruột có 04 người, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 2002.
Tiền án, Tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 04/5/2018 bị Ủy ban nhân dân tỉnh N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển hàng hoá nhập lậu (Đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/5/2024 đến ngày 18/5/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang được tại ngoại tại nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thành P1, sinh năm 1967 trú tại thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận làm nghề tài xế lái xe ôm. Khoảng 8 giờ ngày 15/5/2024, P1 đang chờ khách tại Bến xe tỉnh N tại thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận thì có 01 người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch đến gặp và thuê P1 đi ra khu vực gần trạm thu phí tại xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa để nhận 300 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu J và S rồi chở về giao tại Bến xe tỉnh N để nhận tiền công 300.000 đồng thì P1 đồng ý. Người đàn ông lấy số điện thoại của P1 rồi nói cứ chạy thẳng theo đường Q ra gần trạm thu phí thuộc xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa sẽ có người đàn ông tên H1 ra đón. Sau đó, P1 điều khiển xe mô tô biển số 85F1-019.00 mang theo 02 sợi dây chằng dài 03m và trên đường đi P1 có nhặt 01 khúc cây gỗ kích thước (125 x 1,43 x 1,32)cm để vận chuyển thuốc lá điếu. Khi P1 điều khiển xe mô tô chạy đến khu vực T thuộc xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa thì có một người đàn ông đứng cạnh một xe ô tô tải loại nhỏ (P1 không để ý biển số xe) đang dừng ở lề đường Quốc lộ 1A vẫy tay ra tín hiệu cho P1 dừng xe mô tô lại và người này nói tên là H1. Sau đó, người đàn ông khác (không rõ nhân nhân, lai lịch) đi cùng H1 ở trên xe ô tô tải lấy 03 túi nilon màu đen và 03 giỏ xách màu xanh chứa 225 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet và 75 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu Scott giao cho P1 chở về bến xe tỉnh Ninh Thuận. Lúc 10 giờ 15 phút cùng ngày, khi P1 điều khiển xe mô tô vận chuyển số thuốc lá điếu chạy trên đường Q đến thôn M, xã B, huyện T, tỉnh Ninh Thuận thì bị tổ tuần tra Công an huyện T phối hợp với Công an xã B đang tuần tra trên tuyến đường Q nghi ngờ nên đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện bên trong 03 túi nilon màu đen và 03 giỏ xách màu xanh là 225 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet và 75 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu Scott (trong 01 cây thuốc lá có 10 bao thuốc, trong 01 bao thuốc có 20 điếu thuốc). Tổ tuần tra đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với ông Lê Thành P1 về hành vi vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu và đưa về trụ sở làm việc.
Tại công văn số 93/CV-2024 HHTLVN ngày 17/5/2024 của H2 xác định những mẫu thuốc lá điếu nhãn hiệu JET và SCOTT mà Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T gửi đến H2 là thuốc lá điếu nhập lậu.
Bản Cáo trạng số: 18/CT-VKS, ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo Lê Thành P1 về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm e khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Thành P1 từ 24 đến 30 tháng tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”. Đề nghị áp Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán - Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo cho bị cáo được hưởng án treo. Đề nghị áp dụng khoản 4 Điều 191 BLHS xử phạt bổ sung 10.000.000đ để sung quỹ Nhà nước. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Bị cáo không có tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xin cho bị cáo được hưởng án treo để nuôi con bệnh tật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Lê Thành P1 khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang vào lúc 10 giờ 15 phút ngày 15/5/2024, biên bản khám xét vào lúc 15 giờ 20 phút ngày 15/5/2024, công văn số 93/CV-2024 HHTLVN ngày 17/5/2024 của H2 và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, có đủ căn cứ xác định: Ngày 15/5/2024, Lê Thành P1 điều khiển xe mô tô vận chuyển 3.000 bao thuốc lá điếu hiệu JET và SCOTT, không có hóa đơn, chứng từ theo quy định pháp luật cho một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch từ thành phố C, tỉnh Khánh Hòa đến thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận để nhận tiền công vận chuyển 300.000 đồng. Lúc 10 giờ 15 phút cùng ngày, khi P1 điều khiển xe mô tô vận chuyển số thuốc lá điếu nhập lậu chạy trên đường Q đến thôn M, xã B, huyện T, tỉnh Ninh Thuận thì bị Công an huyện T bắt quả tang. Vì vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lê Thành P1 về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[3] Hành vi trên của bị cáo Lê Thành P1 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hoá Nhà nước cấm lưu hành. Vì vậy phải xử lý nghiêm minh nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
Xét về nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thì nhận thấy:
Bị cáo Lê Thành P1 là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý. Nhưng vì hám lợi số tiền 300.000đ là tiền thuê vận chuyển và nhất thời thiếu suy nghĩ, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi vận chuyển thuốc lá điếu ngoại nhập lậu cho người khác. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước về tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, làm ảnh hưởng đến trật tự quản lý kinh tế. Do đó, cần có một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả và hành vi của bị cáo đã thực hiện để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bịcáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và Điều 51 Bộ luật Hình sự như: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Ngoài ra, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ đã mất, là lao động chính trong gia đình nuôi 02 người con đang bị bệnh có xác nhận của chính quyền địa phương. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, lần đầu phạm tội nhưng chỉ với vai trò là người vận chuyển hàng cấm thuê cho người khác, chưa nhận thức được đầy đủ đây là hàng hóa Nhà nước cấm lưu hành, trường hợp vi phạm sẽ bị xử lý hình sự. Sau khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đã bị phát hiện, ngăn chặn xử lý kịp thời, chưa phát sinh hậu quả xấu. Bị cáo cũng đã tự nguyện nộp một khoản tiền để bảo đảm việc nộp phạt, nên cần áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS để xem xét cho bị cáo. Xét bị cáo có đủ các điều kiện để xem xét cho hưởng án treo theo hướng dẫn tại Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC 07/9/2022, về việc hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Nên không cần thiết phải cách ly Bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa bị cáo và thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng nên áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[4] Đối với người đàn ông đã thuê bị cáo P1 vận chuyển 3.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu và người đàn ông tên H1 cùng với người đàn ông lấy thuốc lá điếu nhập lậu trên xe ô tô tải giao cho bị cáo Lê Thành P1 thì chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp tục điều tra và xử lý sau khi có đủ căn cứ.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 225 cây (2.250 bao) thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET và 75 cây (750 bao) thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu SCOTT là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu huỷ theo quy định của pháp luật.
- Đối với Xe mô tô biển số 85F1-019.00 nhãn hiệu YAMAHA, loại JUPITER là của bị cáo Lê Thành P1 dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, sung công quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.
- Đối với 03 giỏ xách tay, màu xanh; 09 bao tải màu xanh; 03 túi ni lông màu đen; 01 khúc cây gỗ, kích thước (125 x 1,43 x 1,32)cm; 02 sợi dây chằng dài 3m là các công cụ dùng vào việc phạm tội nhưng không có giá trị nên tịch thu, tiêu huỷ theo quy định pháp luật.
- Đối với 01 điện thoại di động bàn phím, màu đen, hiệu V1 kèm sim số 0334343667. Qua điều tra xác định, điện thoại này thuộc sở hữu của bị cáo Lê Thành P1 nhưng không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra Công an huyện T trả lại cho bị cáo P1 là có căn cứ.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Điểm e khoản 2, khoản 4 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thành P1 phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Thành P1 30 (ba mươi) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án (ngày 05/8/2024).
Giao Bị cáo Lê Thành P1 cho Ủy ban Nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Xử phạt bổ sung Bị cáo Lê Thành P1: 10.000.000đ (mười triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước, được khấu trừ vào số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) do bị cáo tự nguyện nộp theo biên lai thu tiền số 0001172 ngày 29/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Bắc. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tiền bổ sung.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 225 cây (2.250 bao) thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET và 75 cây (750 bao) thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu SCOTT là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành.
- Tịch thu tiêu hủy đối với 03 giỏ xách tay, màu xanh; 09 bao tải màu xanh; 03 túi ni lông màu đen; 01 khúc cây gỗ, kích thước (125 x 1,43 x 1,32)cm; 02 sợi dây chằng dài 3m là các công cụ dùng vào việc phạm tội.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với Xe mô tô biển số 85F1-019.00 nhãn hiệu YAMAHA, loại JUPITER là tài sản của bị cáo dùng vào việc phạm tội. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/7/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Bắc).
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Thành P1 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, có mặt Bị cáo, quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 05/8/2024).
(đã giải thích chế định án treo cho bị cáo).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Phước Trí |
Bản án số 16/2024/HSST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC, TỈNH NINH THUẬN về hình sự (vận chuyển hàng cấm)
- Số bản án: 16/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vận chuyển hàng cấm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thành Ph phạm tội vận chuyển hàng cấm
