|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SA PA-TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2024/DS-ST
Ngày: 04-7-2024
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SA PA-TỈNH LÀO CAI
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Hà.
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Mạnh và ông Chảo Láo Lủ.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường-Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sa Pa.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy-Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sa Pa, xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2024/TLST-DS ngày 30 tháng 01 năm 2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 5 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 29/2024/QÐST-DS ngày 06 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hà Minh Q, sinh năm 19xx. Địa chỉ: Tổ 20, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Vàng A D. Địa chỉ: Thôn Ý, xã H, thị xã S, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Thào Thị C. Vắng mặt. Anh Vàng A S. Vắng mặt. Anh Vàng A V. Vắng mặt. Chị Sùng Thị X. Vắng mặt. Chị Vàng Thị Tr. Vắng mặt. Cùng địa chỉ: Thôn Ý, xã H, thị xã S, tỉnh Lào Cai.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Vàng A D: Anh Vàng A V. Địa chỉ: Thôn Ý, xã H, thị xã S, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Ma Ngọc Mạnh L, sinh năm 19xx. Địa chỉ: Tổ 01, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, trong bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Năm 1986, ông Hà Minh Q khai phá diện tích đất khoảng 2,5ha tại xóm 2, thị trấn Sa Pa, huyện Sa Pa (Nay là tổ 02, phường S, thị xã S), tỉnh Lào Cai. Năm 1992, gia đình ông Hà Minh Q làm thủ tục xin cấp đất và được Ủy ban nhân dân huyện Sa Pa ban hành Quyết định cấp đất làm vườn rừng số: 22 với diện tích đất 2,5ha mang tên ông Hà Minh Q. Trong đó, đất trồng cây gây rừng là 0,5 ha; đất trồng cây ăn quả là 1,0 ha; đất nương định canh là 1,0 ha. Sau khi được cấp đất gia đình trồng cây theo phương thức nông, lâm kết hợp thâm canh trồng cây ăn quả, trồng xen cây Thông Sa Mộc, cây Trẩu và Tống Cuốn Sủi. Đến năm 2004, các loại cây lâu năm khép tán phủ kín đất, nên gia đình không trồng cây hàng năm nhưng vẫn tiếp tục chăm sóc cây và quản lý vườn rừng. Đến đầu năm 2018, một số hộ gia đình người HMông tranh chấp chặt phá cây và lấn chiếm đất để trồng cây Ngô, trong đó có gia đình ông Vàng A D lấn chiếm diện tích đất là 925,78m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai.
Ngày 07 tháng 8 năm 2019, Hạt Kiểm lâm thị xã Sa Pa, Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Sa Pa, Trung tâm phát triển quỹ đất thị xã Sa Pa, Ban quản lý khu du lịch sinh thái Hàm Rồng, Ủy ban nhân dân xã Lao Chải, Ủy ban nhân dân thị trấn Sa Pa, Ủy ban nhân dân xã San Sả Hồ xác định diện tích đất vườn rừng của gia đình ông Hà Minh Q, có 10 hộ dân lấn chiếm để trồng cây Ngô là các hộ gia đình ông Thào A Ch, Sùng A Ch, Vàng A D, Sùng A L, Thào A S, Sùng A S, Sùng A Th, Sùng A V, Sùng A C, Vàng A L. Từ năm 2020 đến năm 2021, các hộ dân tiếp tục chặt phá rừng, nên ông Hà Minh Q nhiều lần gửi đơn trình báo kèm theo ảnh hiện trạng rừng đến Hạt Kiểm lâm thị xã Sa Pa, Công an phường Sa Pa.
Ngày 10 tháng 3 năm 2021, Hạt Kiểm lâm thị xã Sa Pa tiến hành làm việc với hộ gia đình ông Hà Minh Q, để thống nhất biện pháp trồng lại rừng trên diện tích đất đã được cấp làm vườn rừng đã bị các các hộ dân khác khai thác, chặt phá. Đến ngày 19 tháng 3 năm 2021, gia đình ông Hà Minh Q nhận 5.000 cây Thông Sa Mộc của Hạt Kiểm lâm thị xã Sa Pa, để trồng lại trên diện tích đất vườn rừng đã bị chặt phá. Đến ngày 20 tháng 3 năm 2021, gia đình ông Hà Minh Q thuê người đưa cây đến trồng thì bị một số người dân tộc HMông đến ngăn cản, uy hiếp không cho trồng cây và nhổ hết số cây đã trồng. Đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Sa Pa giải quyết: Buộc ông ông Vàng A D trả lại diện tích đất là 925,78m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai và phải chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất. Ngày 16 tháng 4 năm 2024, ông Hà Minh Q khởi kiện bổ sung yêu cầu ông Vàng A D trả lại diện tích đất là 1.544,7m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập bị đơn ông Vàng A D và người có quyên lợi nghĩa vụ liên quan bà Thào Thị C, anh Vàng A S, anh Vàng A V, chị Sùng Thị X, chị Vàng Thị Tr lấy ý kiến của họ và yêu cầu cung cấp chứng cứ. Tuy nhiên, các ông bà, anh, chị nêu trên không gửi ý kiến bằng văn bản và cũng không đến Tòa án nên không lấy được ý kiến của họ.
Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đổi với đất tranh chấp, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Vàng A V xác định diện tích đất tranh chấp có diện tích là 920,7m²; nguyên đơn đề nghị Tòa án căn cứ vào sơ đồ đất đo đạc do Trung tâm phát triển quỹ đất thị xã Sa Pa cung cấp, để chuyển tọa độ xuống thực địa, xác định diện tích đất tranh chấp là 1.544,7m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai, tài sản trên đất có cây Ngô.
Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào sổ quản lý vườn rừng/quyết định cấp đất làm vườn rừng số 22, kết quả đo đạc của Trung tâm phát triển quỹ đất thị xã Sa Pa và Văn bản số: 455/TNMT/QLĐĐ 19 tháng 9 năm 2022 của phòng tài nguyên và môi trường thị xã Sa Pa và sơ đồ đo đạc đất của trung tâm phát triển quỹ đất thị xã Sa Pa, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Vàng A D, bà Thào Thị C, anh Vàng A S, anh Vàng A V, chị Sùng Thị X, chị Vàng Thị Tr thu hoạch cây Ngô trả diện tích đất là 1.544,7m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai. Rút một phần yêu cầu về việc buộc ông Vàng A D chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 1.544,7m².
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa: Quá trình giải quyết vụ án thủ tục tố tụng được tiến hành đầy đủ, đúng quy định. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng quy định pháp luật; bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không chấp hành quy định pháp luật.
Về nội dung quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử căn cứ Điều 100, Điều 203 Luật đất đai; Điều 164, Điều 166 Bộ luật dân sự; Điều 147, Điều 157; Điều 217, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Vàng A D, bà Thào Thị C, anh Vàng A S, anh Vàng A V, chị Sùng Thị X, chị Vàng Thị Tr thu hoạch cây Ngô trả lại diện tích đất là 1.544,7m²-Địa chỉ tổ 02, phường Sa, thị xã S, tỉnh Lào Cai cho ông Hà Minh Q.
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Hà Minh Q về việc, yêu cầu ông Vàng A D chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất diện tích đất là 1.544,7m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai.
Tuyên án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa; Căn cứ kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về áp dụng pháp luật tố tụng nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả lại diện tích đất là 1.544,7m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 203 Luật đất đai và khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án và quan hệ giải quyết là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt không lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Xét yêu cầu khởi kiện và các chứng cứ đương sự cung cấp nguyên đơn, Hội đồng xét xử xem xét tài liệu chứng cứ:
Năm 1986, ông Hà Minh Q khai phá diện tích đất là 2,5ha, có địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai. Đến ngày 25 tháng 5 năm 1992, Ủy ban nhân dân huyện Sa Pa ban hành Quyết định cấp đất làm vườn rừng số: 22 đối với diện tích đất 2,5ha cho ông Hà Minh Q. Ông Hà Minh Q cung cấp người làm chứng, giấy cấp đất chứng minh đất được cấp nêu trên giáp đất liền kề của các hộ ông Nguyễn Tự D, ông Giàng Xuân Ch những hộ dân này cũng được Nhà Nước giao đất trong cùng thời gian năm 1992 và những người làm chứng ông Nguyễn Minh S, ông Đỗ Tràng Ch, ông Nguyễn Tiến S có đất liền kề xác nhận.
Trong qua trình giải quyết vụ án, Tòa án đã yêu cầu bị đơn ông Vàng A D cung cấp tài liệu chứng minh diện tích đất tranh chấp thuộc quyền quản lý sử dụng của mình, tuy nhiên ông Vàng A D không cung cấp tài liệu chứng cứ.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Vàng A D là anh Vàng A V, xác định diện tích đất là 920,7m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai; nguyên đơn ông Hà Minh Q đề nghị chuyển tọa độ điểm tại sơ đồ đất do trung tâm phát triển quỹ đất thị xã Sa Pa đã đo đạc chuyển xuống thực địa, xác định diện tích đất tranh chấp, diện tích là 1.544,7m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai. Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ xác định đất tranh chấp diện tích là 1.544,7m², bởi lẽ diện tích đất được đo đạc là do ông Vàng A D quản lý sử dụng, xác định cung cấp cho Trung tâm phát triển quỹ đất đo đạc và được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Lào Cai duyệt.
Tại văn bản số: 455/TNMT-QLĐT ngày 19 tháng 9 năm 2022 của phòng tài nguyên và môi trường thị xã Sa Pa, xác định sổ quản lý vườn rừng theo Quyết định vườn rừng số 22 năm 1992 cấp đất cho ông Hà Minh Q; Sổ quản lý vườn rừng theo Quyết định vườn rừng số 22 năm 1992 cấp đất cho ông Nguyễn Tự o; Sổ quản lý vườn rừng theo Quyết định vườn rừng số 24 năm 1992 cấp đất cho ông Giàng Xuân Ch thì thấy tại sơ đồ vườn rừng của các Quyết định cấp đất cho ông Nguyễn Tự D và ông Giàng Xuân Ch, thửa đất của ông Hà Minh Q giáp với đất của ông Giàng Xuân Ch. Tại thực địa, thửa đất đang tranh chấp hiện nay giữa ông Hà Minh Q với các hộ gia đình các ông Sùng A Ch, Sùng A C, Vàng A D, Sùng A L, Vàng A L, Sùng A S, Vàng A D, Sùng A Th, Vàng A V có giáp ranh với đất của ông Giàng Xuân Ch và ông Nguyễn Tự D là đúng. Như vậy, diện tích đất là 1.544,7m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai nằm trong diện tích đất 2,5ha-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai phù hợp với lời khai của những người làm chứng do nguyên đơn ông Hà Minh Q cung cấp.
Theo công văn số: 16/CV-BQLHR ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Ban quản lý khu du lịch sinh thái Hàm Rồng, xác định toàn bộ diện tích đất tranh chấp nằm trong phần diện tích đất 64,55ha chưa giải phóng mặt bằng theo kết luận Thanh tra số: 01/KL-TT ngày 08 tháng 01 năm 2020 của Thanh tra tỉnh Lào Cai và không nằm trong phạm vi đất mà Ban quản lý khu di lịch sinh thái Hàm Rồng quản lý được giao quản lý.
Tại công văn số: 1802/UBND-TNMT ngày 7 tháng 6 năm 2024 của Ủy ban nhân dân thị xã Sa Pa, về việc cung cấp thông tin xác định diện tích đất 1.544,7m² nằm trong diện tích đất là 20.652,9m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai do Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai tiến hành xem xét thẩm định đo đạc ngày 23 tháng 02 năm 2024.
Từ những vấn đề nêu trên, Hội đồng xét xử nhận định ông Hà Minh Q cung được tài liệu chứng cứ, chứng minh diện tích đất tranh chấp là 1.544,7m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai nằm trong diện tích đất theo Quyết định cấp đất làm vườn rừng số: 22 đối với diện tích đất là 2,5ha do Ủy ban nhân dân huyện Sa Pa cấp ngày 25 tháng 5 năm 1992 mang tên ông Hà Minh Q và phù hợp với những người làm chứng. Như vậy, có căn cứ xác định diện tích đất tranh chấp nêu trên được Nhà nước giao cho ông Hà Minh Q quản lý sử dụng. Nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông Hà Minh Q buộc ông Vàng A D, bà Thào Thị C, anh Vàng A S, anh Vàng A V, chị Sùng Thị X, chị Vàng Thị Tr thu hoạch cây Ngô trả lại diện tích đất là 1.544,7m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai cho ông Hà Minh Q.
Đối với yêu cầu của ông Hà Minh Q có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, buộc ông Vàng A D chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc ông Hà Minh Q thực hiện quyền sử dụng diện tích đất 1.544,7m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai, nên đình chỉ yêu cầu này theo quy định pháp luật.
[3] Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; bị đơn phải chịu chi phí tố tụng theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 100, khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai; Điều 164, Điều 166 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 217, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu câu khởi kiện của nguyên đơn ông Hà Minh Q. Buộc ông Vàng A D, bà Thào Thị C, anh Vàng A S, anh Vàng A V, chị Sùng Thị X, chị Vàng Thị Tr thu hoạch cây Ngô trả lại diện tích đất là 1.544,7m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai cho ông Hà Minh Q. Diện tích đất có phía giáp đất ông Vàng A L tranh chấp với ông Hà Minh Q; Phía giáp đất bà Vàng Thị M đang tranh chấp với ông Hà Minh Q. Diện tích đất được xác định các điểm tọa độ theo sơ đồ xem xét thẩm định như sau:
- 1. X(m) 2471061.70 - Y(m) 407339.46; 2. X(m) 2471063.41 - Y(m) 407337.02; 3. X(m) 2471065.99 - Y(m) 407334.64; 4. X(m) 2471069.07 - Y(m) 407331.50; 5. X(m) 2471073.35 - Y(m) 407327.26; 6. X(m) 2471075.32 - Y(m) 407323.34; 7. X(m) 2471077.94 - Y(m) 407318.25; 8. X(m) 2471079.85 - Y(m) 407314.34; 9. X(m) 2471080.60 - Y(m) 407312.90; 10. X(m) 2471089.00 - Y(m) 407315.00; 11. X(m) 2471091.00 - Y(m) 407324.00; 12. X(m) 2471102.09 - Y(m) 407327.70; 13. X(m) 2471103.00 - Y(m) 407328.00; 14. X(m) 2471106.00 - Y(m) 407335.00; 15. X(m) 2471105.00 - Y(m) 407349.00; 16. X(m) 2471105.00 - Y(m) 407366.00; 17. X(m) 2471095.00 - Y(m) 407366.00; 45. X(m) 2471095.18 - Y(m) 407370.79; 46. X(m) 2471096.39 - Y(m) 407376.39; 47. X(m) 2471096.45 - Y(m) 407376.92; 48. X(m) 2471097.44 - Y(m) 407380.13; 49. X(m) 2471098.01 - Y(m) 407383.12; 50. X(m) 2471096.24 - Y(m) 407383.42; 51. X(m) 2471092.90 - Y(m) 407383.38; 52. X(m) 2471087.98 - Y(m) 407383.46; 19. X(m) 2471087.60 - Y(m) 407380.29; 20. X(m) 2471086.35 - Y(m) 407375.32; 21. X(m) 2471084.91 - Y(m) 407370.76; 22. X(m) 2471082.62 - Y(m) 407362.68; 23. X(m) 2471081.07 - Y(m) 407361.45; 24. X(m) 2471080.20 - Y(m) 407359.35; 25. X(m) 2471076.92 - Y(m) 407354. 22; 26. X(m) 2471072.62 - Y(m) 407348.90; 27. X(m) 2471071.29 - Y(m) 407347. 86; 28. X(m) 2471065.12 - Y(m) 407342.87.
Đình chỉ yêu cầu của ông Hà Minh Q, về việc buộc ông Vàng A D chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc ông Hà Minh Q thực hiện quyền sử dụng đất, đối với diện tích đất là 1.544,7m²-Địa chỉ tổ 02, phường Sa Pa, thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai.
(Kèm theo Sơ đồ, vị trí thửa đất của trung tâm phát triển quỹ đất thị xã Sa Pa; Biên bản xem xét thẩm định và Sơ đồ đất xem xét thẩm định tại chỗ đất tranh chấp).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền phải hoàn trả phải thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng người phải thi hành án phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án, tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Về án phí: Ông Hà Minh Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho ông Hà Minh Q tiền tạm ứng án phí đã nộp số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001532 ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sa Pa.
Ông Vàng A D phải chịu số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thâm.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Vàng A D phải chịu chi phí xem xét thẩm định, nhưng do ông Hà Minh Q đã nộp chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền là 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng). Như vậy, ông Vàng A D phải hoàn trả cho ông Hà Minh Q số tiền là 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng).
Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7a, 7b và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thái Hà |
Bản án số 16/2024/DS-ST ngày 04/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SA PA-TỈNH LÀO CAI về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 16/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SA PA-TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HA MINH Q - VANG A D
