Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG ĐIỀN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HS-ST

Ngày: 03/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

    Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu An

    Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Hải

    2. Ông Võ Văn Tường

  • - Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Minh Khang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền tham gia phiên tòa: ông Trần Khánh Hỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ và Khu nhà làm việc Nhà tạm giữ - Công an huyện P, Tòa án nhân dân huyện Phong Điền xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

LÊ MINH DUY, sinh ngày: 22/12/1996, tại Cần Thơ;

Nơi cư trú: ấp T, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ;

Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh;

Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Lê Minh C và bà Nguyễn Thị Thu B;

Tiền án, tiền sự: không

Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/12/2023 đến nay. Có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Đào Thanh N, sinh năm: 2001

    Nơi cư trú: ấp X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Vắng mặt

  • - Ông Lương Minh L, sinh năm: 1983

    Nơi cư trú: ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 14/12/2023, Lê Minh D sử dụng điện thoại không nhớ số gọi cho người bạn tên Lương Minh L, D nhờ L chở đi đến chợ C1 thuộc xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang để chuộc điện thoại, do trước đó D có cầm điện thoại cho một người tên B1 (không rõ nhân thân, lai lịch) nhưng không gặp được B1. Sau đó, D kêu L chở đi công việc nhưng không nói mục đích đi làm gì, L đồng ý chở D đến hẻm ở chợ C1, do trời tối nên cũng không biết rõ nơi đến. D kêu L đậu xe bên ngoài chờ còn D vào trong hẻm gặp một người thiếu niên khoảng 16 tuổi đến 17 tuổi (không rõ nhân thân, lai lịch) mua gói ma túy với số tiền là 300.000 đồng, D trả trước 200.000 đồng còn nợ lại 100.000 đồng, D cầm gói ma túy trên tay phải, khoảng 05 phút sau đi ra kêu L chở D về, D không nói với L về việc mua ma túy. Khi về đến nhà ở ấp T, xã N, huyện P thì D nhờ L ngồi ở phòng khách coi chừng nhà, khi nào có ông nội của D tên Lê Văn R đến thì cho D hay, D đi vào phía nhà sau đổ ma túy vào ống phễu thủy tinh (nỏ) để sử dụng, lúc này L vẫn ngồi ở phòng khách phía trước nhà. Sau khi cho ma túy vào bình xong thì D đã hút được khoảng 02 - 03 hơi rồi đi trở ra phòng khách để ống phễu trên đầu tủ lạnh. L nhìn thấy D sử dụng ma túy thì L tự ý đi đến cầm ống phễu hút khoảng 02 hơi. Do D biết L là người nghiện ma túy nên sau khi L sử dụng thì D kêu L về. D đem dụng cụ sử dụng ma túy và số ma túy còn lại trong ống phễu thủy tinh mang vào phòng ngủ cất giấu thì Đào Thanh N (là vợ của D) nhìn thấy và tự lấy sử dụng. Đến 22 giờ 35 phút ngày 14/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện P tiếp nhận tin báo D có biểu hiện liên quan đến ma túy nên đến 00 giờ 05 phút ngày 15/12/2023 tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Lê Minh D, qua khám xét tại phòng khách thu giữ 01 gói nilon không màu, nẹp miệng, hàn kín bên trong chứa tinh thể không màu (nghi là ma túy), được niêm phong theo quy định.

Tại bản kết luận giám định số 382/KL-KTHS ngày 22/12/2023 của Phòng K, Công an thành phố C thì tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1039 gam. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,0595 gam được niêm phong số 382/KL-KTHS.

Đối với Lương Minh L thừa nhận có sử dụng ma túy chung với D 02 lần, lần đầu cách ngày 14/12/2023 khoảng 09 ngày và lần cuối là ngày 14/12/2023 sử dụng tại phòng khách nhà D, các lần sử dụng đều được D cho sử dụng, không có hùn tiền mua, nguồn gốc ma túy từ đâu D có thì L không rõ. Đối với Đào Thanh N thừa nhận có sử dụng ma túy khi D mang bộ dụng cụ sử dụng ma túy vào phòng ngủ cất giấu. Tự bản thân L và N lấy sử dụng, D không bố trí, sắp xếp, điều hành con người, phương tiện hoặc chủ động cung cấp ma túy cho L và N cùng sử dụng ma túy. Do đó, không đủ căn cứ xem xét xử lý Lê Minh D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bản thân D là người nghiện ma túy, D mua ma túy về sử dụng, L, N không hứa hẹn trước, không biết việc D mua ma túy, không hùn tiền mua ma túy và phần ma túy sau khi để vào dụng cụ hút còn lại ở đâu, lời khai của D phù hợp với L và N, phù hợp với tài liệu, chứng cứ do Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện P thu thập. Do đó, không đủ căn cứ để xử lý L và N về hành vi đồng phạm với Lê Minh D về tội “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lương Minh L và Đào Thanh N, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện P chuyển về địa phương tiếp tục theo dõi, quản lý, xử lý theo đúng quy định.

Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho D các lần trước ngày 14/12/2023 tên Q có độ tuổi từ 31 tuổi đến 32 tuổi, qua xác minh tại thị trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang không có người tên Q có độ tuổi từ 31 tuổi đến 32 tuổi bán ma túy như D khai; người thiếu niên bán ma túy cho D có độ tuổi từ 16 tuổi đến 17 tuổi (không rõ nhân thân, lai lịch). Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện P tiếp tục xác minh, làm rõ, đủ cơ sở xử lý sau.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • - 01 gói nilon không màu, nẹp miệng, hàn kín bên trong chứa tinh thể không màu tại phòng khách.
  • - 01 bình nhựa có nắp đậy, màu trắng được khoét 02 lỗ, 01 lỗ có gắn 01 ống phễu thủy tinh, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng được thu giữ trong phòng ngủ là của D dùng để sử dụng ma túy.

Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKS-PĐ ngày 09/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Lê Minh D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Bị cáo không có khiếu nại đối với các hành vi và các quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố. Do đó các hành vi, quyết định của các cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
  2. [2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: vào khoảng 20 giờ ngày 14/12/2023, bị cáo điện thoại Lương Minh L nhờ L chở đi đến chợ C1 thuộc xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang để chuộc điện thoại, do trước đó bị cáo có cầm điện thoại cho một người tên B1 nhưng không gặp được B1. Sau đó, bị cáo kêu L chở đi công việc nhưng không nói mục đích đi làm gì, L đồng ý chở bị cáo đến hẻm ở chợ C1, do trời tối nên cũng không biết rõ nơi đến. Bị cáo kêu L đậu xe bên ngoài chờ còn bị cáo vào trong hẻm gặp một người thiếu niên khoảng 16 tuổi đến 17 tuổi (không rõ nhân thân, lai lịch) mua gói ma túy với số tiền là 300.000 đồng, Bị cáo trả trước 200.000 đồng còn nợ lại 100.000 đồng, bị cáo cầm gói ma túy trên tay phải, khoảng 05 phút sau đi ra kêu L chở bị cáo về, bị cáo không nói với L về việc mua ma túy. Khi về đến nhà ở ấp T, xã N, huyện P thì bị cáo nhờ L ngồi ở phòng khách coi chừng nhà, khi nào có ông nội của bị cáo tên Lê Văn R đến thì cho bị cáo hay, bị cáo đi vào phía nhà sau đổ ma túy vào ống phễu thủy tinh (nỏ) để sử dụng, lúc này L vẫn ngồi ở phòng khách phía trước nhà. Sau khi cho ma túy vào bình xong thì bị cáo đã hút được khoảng 02 - 03 hơi rồi đi trở ra phòng khách để ống phễu trên đầu tủ lạnh, L nhìn thấy thì L tự ý đi đến cầm ống phễu hút khoảng 02 hơi. Do bị cáo biết L là người nghiện ma túy nên sau khi L sử dụng thì bị cáo kêu L về. Bị cáo đem dụng cụ sử dụng ma túy và số ma túy còn lại trong ống phễu thủy tinh mang vào phòng ngủ cất giấu thì Đào Thanh N (là vợ của bị cáo) nhìn thấy và tự lấy sử dụng. Đến 22 giờ 35 phút ngày 14/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện P tiếp nhận tin báo bị cáo có biểu hiện liên quan đến ma túy nên đến 00 giờ 05 phút ngày 15/12/2023 tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở đối với bị cáo và thu giữ được tang vật. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo, bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
  3. [3] Khi phát biểu trong phần tranh luận: đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ, động cơ phạm tội của bị cáo, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý các vật chứng mà Cơ quan điều tra đã thu giữ.
  4. [4] Hội đồng xét xử đối chiếu lời khai của bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và vật chứng thu giữ. Bị cáo có hành vi tàng trái phép ma túy để sử dụng, không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, vận chuyển với khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo là 0,1039 gam loại Methamphetamine, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Điều đó chứng tỏ, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Bị cáo đã thành niên, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ tác hại của việc sử dụng ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách của nhà nước về quản lý chất ma túy, gây mất an ninh trật tự và an toàn xã hội. Do đó, đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến thái độ khai báo thành khẩn của bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
  5. [5] Về xử lý vật chứng, đối với số ma túy còn lại sau giám định là 0,0595 gam, loại Methamphetamine được niêm phong trong gói niêm phong số 382/KL - KTHS ngày 22/12/2023, 01 bình nhựa có nắp đậy, màu trắng được khoét 02 lỗ, 01 lỗ có gắn 01 ống phễu thủy tinh, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng được thu giữ trong phòng ngủ của bị cáo cần tịch thu tiêu hủy.
  6. [6] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Lê Minh D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt: bị cáo Lê Minh D 01 (một) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 15/12/2023.

Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: số ma túy còn lại sau giám định là 0,0595 gam, loại Methamphetamine được niêm phong trong gói niêm phong số 382/KL - KTHS ngày 22/12/2023, 01 bình nhựa có nắp đậy, màu trắng được khoét 02 lỗ, 01 lỗ có gắn 01 ống phễu thủy tinh, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng được thu giữ trong phòng ngủ của bị cáo.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND Tp. Cần Thơ;
  • - Phồ sơ, nghiệp vụ CA TPCT;
  • - Sở tư pháp Tp. Cần Thơ;
  • - VKSND huyện Phong Điền;
  • - Chi cục THADS H. Phong Điền;
  • - CQĐT Công an H. Phong Điền;
  • - Chi cục thuế H. Phong Điền;
  • - Cục Hải quan Cần Thơ;
  • - Đội CSTHAHS H.PD;
  • - Lưu HS (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NGUYỄN THỊ THU AN

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 16/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger