|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:16/2024/HNGĐ-PT Ngày: 02/7/2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Các Thẩm phán: Bà Đoàn Thị Hương Nhu
Ông Nguyễn Xuân Trường
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Thúy Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Ông Nguyễn Văn Tưởng- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 02 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử trực tuyến công khai vụ án Hôn nhân gia đình phúc thẩm, thụ lý số 11/2024/HNGĐ-PT ngày 07 tháng 5 năm 2024, về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con ”
Điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Điểm cầu thành phần: Trụ sở Tòa án nhân nhân huyện B
Người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần: Ông Lê Văn H – Thư ký tòa án nhân dân huyện Bình Giang.
Do bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 03/2024/HNGĐ- ST ngày 06/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương bị kháng cáo, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXPT - HNGĐ ngày 07/6/2024, giữa:
1. Nguyên đơn: Anh Trần Văn X, sinh năm 1980 ( có mặt).
Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện B, tỉnh Hải Dương
2. Bị đơn: Chị Hồ Thị Mỹ N, sinh năm 1983 ( có mặt).
Địa chỉ: Thôn M, xã B, huyện B, tỉnh Hải Dương
Do có kháng cáo của Chị Hồ Thị Mỹ N- Là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 03/2024/HNGĐ - ST ngày 06/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, vụ án có nội dung được tóm tắt như sau:
-
- Theo nguyên đơn anh Trần Văn X trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Hồ Thị Mỹ N1 hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N năm 2003. Sau khi kết hôn vợ chồng thuê nhà trọ và sống ở thôn P, xã T, huyện B về thôn M, xã B, huyện B, tỉnh Hải Dương mua đất xây nhà và sinh sống ở đó cho đến nay. Vợ chồng anh sống hạnh phúc được khoảng hơn 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị N2 xử không tốt với anh và gia đình chồng. Chị N3 thường anh không làm được kinh tế nên tự quyết định mọi việc, anh cảm thấy mình không có tiếng nói trong gia đình. Vợ chồng anh đã sống ly thân hơn 1 năm, anh về nhà bố mẹ đẻ ở xã N. Đến nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh xin được ly hôn chị N
Về con chung: Anh và chị N4 03 con chung là Trần T H1sinh năm 2004 (đã trưởng thành), Trần Nhật M năm 2012 và Trần Nhật A năm 2013. Các con Nhật M và Nhật A đang sống cùng chị N5 đề nghị để chị N6 cả 2 con vì các con muốn ở với mẹ.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu giải quyết
-
- Theo bị đơn chị Hồ Thị Mỹ N7 bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn X1 hôn tự nguyện. Trong quá trình chung sống vợ chồng chị có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh X2 chịu làm ăn, ham chơi, rượu chè, đàn đúm cờ bạc dẫn đến vi phạm pháp luật. Chị đã rất nhiều lần tha thứ cho anh X, bảo vệ gia đình nhưng anh X2 hiểu tình cảm của chị mà còn gây sự, dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Tuy nhiên, vì con cái nên chị mong muốn anh X3 nghĩ lại rút đơn ly hôn, nay anh X4 đơn ly hôn chị không đồng ý.
Về con chung: Chị và anh X4 3 con chung là Trần Thu H1, sinh năm 2004, đã trưởng thành hiện đang lao động tại Nhật Bản. Cháu Trần Nhật A1, sinh năm 2013 và cháu Trần Nhật M1, sinh năm 2012 đang sống cùng với chị. Các con đều khỏe mạnh, học hành đầy đủ. Nếu ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cả 2 con, chị tự nguyện không yêu cầu anh X5 cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu tòa án giải quyết.
2
Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 03/2024/HNGĐ- ST ngày 06/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương đã căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Trần Văn X6 hôn chị Hồ Thị Mỹ N
- Về con chung: Giao cho chị Hồ Thị Mỹ N8 tiếp nuôi con chung là Trần Nhật M ngày 13/4/2012 và Trần Nhật A ngày 25/10/2013 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị N9 yêu cầu anh X cấp d nuôi con chung.
Anh X4 quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.
Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm chị Hồ Thị Mỹ N có đơn kháng không đồng ý để anh X7 con vì anh X2 có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi con cùng chị. Về tài sản chung vợ chồng, chị đề nghị cấp phúc thẩm ghi nhận ý kiến của anh X8 bản án là anh X9 lại hết tài sản cho mẹ con chị. Tại phiên tòa, chị N10 giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Anh X4 quan điểm: Không đồng ý với quan điểm của chị N11 việc không cho anh thăm nom con chung. Về tài sản anh đồng ý để lại toàn bộ tài sản cho chị N
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương có quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Chị N kháng cáo không đồng ý cho anh X7 con là không có căn cứ, vì theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình thì người không được nuôi con có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về quan hệ tài sản, mặc dù trong đơn khởi kiện anh X4 quan điểm để lại toàn bộ tài sản cho chị N12 trong quá trình giải quyết vụ án anh X10 chị N13 có quan điểm là không yêu cầu giải quyết về tài sản nên Tòa án sơ thẩm đã không xem xét về tài sản chung của anh X10 chị N14 đúng quy định. Tuy nhiên tại phiên tòa anh X4 quan điểm đồng ý để lại toàn bộ tài sản cho chị N15 vậy đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận sự tự nguyện của anh X
3
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
-
[1] Về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị N kháng cáo trong thời hạn luật định, nên kháng cáo hợp lệ.
-
[2] Xét kháng cáo của chị Hồ Thị Mỹ N, Hội đồng xét xử thấy: Chị N kháng cáo không đồng ý để anh X11 sóc, thăm nom con chung. Lý do là vì chị N16 rằng anh X2 có trách nhiệm trong việc nuôi con. Tuy nhiên Hội đồng xét xử thấy, quá trình giải quyết vụ án chị N4 quan điểm xin được nuôi con và tự nguyện không yêu cầu anh X5 cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Mặt khác theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân gia đình quy định “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở…”, đây vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung và cũng là quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên. Việc chị N9 cho anh X7 nom con chung là không đúng quy định của pháp luật. Do đó, nội dung kháng cáo này của chị N9 có căn cứ chấp nhận.
2.3. Xem xét nội dung kháng cáo đề nghị Tòa án ghi nhận ý kiến của anh X9 lại toàn bộ tài sản cho chị và các con, Hội đồng xét xử thấy: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã nhiều lần triệu tập chị N17 làm việc nhưng chị N10 vắng mặt không có lý do. Tòa án cấp sơ thẩm đã phải đến gia đình chị N18 lấy lời khai. Tại biên bản lấy lời khai ngày 18/01/2024 chị N4 quan điểm chị N9 có ý kiến, yêu cầu gì về tài sản. Đối với anh X12 dù trong đơn khởi kiện anh có quan điểm anh để lại hết tài sản cho vợ con. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án an X có quan điểm không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung vợ chồng. Tại phiên tòa sơ thẩm cả anh X10 chị N13 vắng mặt và không có ý kiến trình bày nào khác, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã không xem xét về tài sản chung của anh X10 chị N19 cùng vụ án là có căn cứ. Tại phiên toà phúc thẩm, mặc dù anh X4 quan điểm đồng ý để lại toàn bộ tài sản cho chị N12 không nêu rõ cụ thể những tài sản nào và những tài sản này cũng chưa được Toà cấp sơ thẩm xem xét, giải quyết. Do vậy căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự cấp phúc thẩm không có thẩm quyền giải quyết, nên nội dung kháng cáo này của chị N20 không có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên chị N21 anh X4 quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục tặng cho tài sản theo quy định của pháp luật. Trường hợp không thoả thuận được anh chị có quyền khởi kiện chia tài sản chung vợ chồng bằng một vụ án khác.
-
[3] Về án phí phúc thẩm: Chị N kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
4
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của chị Hồ Thị Mỹ N. Giữ nguyên bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 03/2024/HNGĐ- ST ngày 06/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương về quan hệ con chung như sau:
Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 luật Hôn nhân và gia đình; Điều 229, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQ1. Xử:
- Về con chung: Giao cho chị Hồ Thị Mỹ N8 tiếp nuôi con chung là Trần Nhật M ngày 13/4/2012 và Trần Nhật A ngày 25/10/2013 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị N9 yêu cầu anh X cấp d nuôi con chung.
Anh X4 quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.
- Về án phí phúc thẩm: Chị Hồ Thị Mỹ N22 chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm, nhưng được đối trừ với số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị N23 nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Giang theo biên lai thu số 0002180 ngày 22/4/2024. Chị N đã nộp xong án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án Hôn nhân gia đình phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiền |
5
Bản án số 16/2024/HNGĐ-PT ngày 02/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 16/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
