TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2024/HSST Ngày 02 tháng 7 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Thanh Tồn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Phước;
- Bà Dương Thị Tú Phương.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Yến Phi - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu, xét xử sơ thẩm công khai – trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 13/2024/HSST ngày 03 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-HS ngày 17/6/2024; điểm cầu Trung tâm tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Phước Long gồm có: Hội đồng xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký phiên tòa; điểm cầu thành phần tại nhà tạm giữ Công an huyện P gồm: bị cáo Dương Văn K; xét xử đối với:
- Bị cáo: Dương Văn K, sinh năm 1988;
- Bị hại:
Tại huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
Tên gọi khác: Không có tên gọi khác;
ĐKNKTT và chổ ở hiện nay: ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu;
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không.
Nghề nghiệp: làm thuê;
Trình độ học vấn: 02/12;
Họ và tên cha: Dương Văn H (không rõ thông tin);
Họ và tên mẹ: Phan Thị T, sinh năm 1947 (đã chết);
Bị cáo chưa có vợ, con;
Tiền sự: không;
Tiền án: 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Trong đó, ngày 12/11/2020 bị Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 05/8/2023 (chưa được xóa án tích).
Bị cáo bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/02/2024 đến nay.
2.1/ Chị Lê Cẩm T1, sinh năm 2002;
Địa chỉ: ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
2.2/ Anh Nguyễn Hoài N, sinh năm 2000.
Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.
Chổ ở hiện nay: ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
Người đại diện theo ủy quyền của chị T1: Anh Nguyễn Hoài N, sinh năm 2000.
Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau.
Chổ ở hiện nay: ấp Bình Hổ A, xã Vĩnh Phú Tây, huyện Phước Long, tỉnh Bạc
3/. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Doanh nghiệp tư nhân vàng bạc Khanh Phước L.
Chủ doanh nghiệp: Bà Trương Thị N1, sinh năm 1955.
Địa chỉ: số D, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
(Bị cáo có mặt; bị hại anh N và chị T1 vắng mặt không có lý do, bà N1 có đơn xin vắng mặt).
NHẬN THẤY:
Bị cáo Dương Văn K bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 14/02/2024, Dương Văn K đi bộ từ quán nước của bà Ngô Thị Hồng H1 thuộc ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu về nhà ngụ cùng ấp. Khi đi ngang nhà bà Trần Thị L1, K dừng lại đi vào nhà kiếm thức ăn, uống nước. Lúc này, Dương Văn K thấy phòng ngủ của Lê Cẩm T1 và chồng Nguyễn Hoài N (Cháu nội bà L1) không đóng cửa, K đi đến thấy có 01 (một) túi xách (cặp da) màu đen để trên góc giường ngủ nên nảy sinh ý định lấy trộm tài sản để bán lấy tiền trả nợ. K đi đến và mở túi xách nhìn thấy hộp tròn màu đỏ thường để cất giữ vàng, có các tài sản gồm: 01 (một) chiếc nhẫn vàng, có mặt hột màu vàng; 01 (một) chiếc nhẫn cưới vàng, loại vàng 610; 01 (một) chiếc nhẫn vàng, có mặt đồng tiền vàng, loại vàng 610; 01 (một) sợi dây chuyền vàng, loại vàng 610; 01 (một) mặt sợi dây chuyền vàng, loại vàng 610; 01 (một) chiếc lắc vàng, loại vàng 610, bỏ vào trong túi quần và nhanh chóng đi về nhà ngủ. Đến khoảng 13 giờ ngày 16/02/2024, Dương Văn K đi đến nhà của Lê Văn C ngụ cùng ấp chơi. Tại đây, K gặp Lê Hoàng D, sinh năm 2008, nơi thường trú: Ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu nhờ D chở K đến chợ P. Dương Văn K nói với C là đi mua đồ và hỏi mượn xe mô tô của C, C đồng ý. Khi đến chợ P, K kêu D ở quán uống cà phê đợi, còn K đi bộ đến tiệm V thuộc ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu để bán các tài sản lấy trộm được. Khi đến tiệm V, K gặp Trương Thị N1, sinh năm 1955, nơi thường trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu là chủ tiệm V, K đưa vàng cho N1 để kiểm tra, trọng lượng tổng cộng là 05 chỉ vàng, loại vàng 610, do vàng này chất lượng không cao nên chỉ mua với giá 3.200.000 đồng/một chỉ, tổng cộng là 16.000.000 đồng, K đồng ý bán số vàng trên và nhận tiền. Khi về đến nhà, K trả tiền xe cho D là 60.000 đồng, trả cho bà Nguyễn Thị T2 số tiền 350.000 đồng và trả cho bà Trần Thị L1 số tiền 1.000.000 đồng, K chi xài cá nhân hết 1.090.000 đồng, còn lại số tiền là 13.500.000 đồng K cất giữ. Đến ngày 16/02/2024, Lê Cẩm T1 phát hiện bị mất các tài sản trên, ngày 17/02/2024, Lê Cẩm T1 trình báo sự việc với Công an xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Nhận thấy hành vi vi phạm pháp luật của mình là không thể trốn tránh được, Dương Văn K đến Công an xã V đầu thú và giao nộp số tiền 13.500.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 14/CT-VKS-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long đã truy tố Dương Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long giữ quyền công tố phát biểu: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo mức án từ 03 đến 04 năm tù; Về xử lý vật chứng, về trách nhiệm dân sự: không đặt ra xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa, bị cáo K tranh luận: bị cáo “Đầu thú”, nộp lại tiền bán vàng cho cơ quan công an nhưng đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo với mức án từ 03 đến 04 năm tù là nặng cho bị cáo. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ để sớm về hòa nhập với xã hội.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
XÉT THẤY:
- [1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại hay ý kiến đối với hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp đúng với quy định của pháp luật. Anh N, chị T1 vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, bà N1 có đơn xin vắng; tuy nhiên, các đương sự có lời khai rõ ràng, đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường, vì vậy việc Tòa án xét xử vắng mặt anh N, chị T1 và bà N1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- [2] Lời khai của bị cáo Dương Văn K tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của anh N, chị T1, bà N1 cũng như lời khai của người làm chứng thể hiện, vào khoản 23 giờ 00 phút, ngày 14/02/2024 sau khi đi từ quán nước bà Ngô Thị Hồng H1 về ngan qua nhà bà Trần Thị L1, bị cáo K ghé vào nhà bà L1 để kiếm thức ăn, uống nước, khi vào nhà thấy phòng ngủ của T1 và chồng là anh N (Cháu nội bà L1) không đóng cửa nên đi vào thấy có 01 (một) túi xách (cặp da) màu đen để trên góc giường ngủ nên nảy sinh ý định lấy trộm tài sản để bán lấy tiền trả nợ, K đi đến và mở túi xách nhìn thấy hộp tròn màu đỏ thường để cất giữ vàng, có các tài sản gồm: 01 (một) chiếc nhẫn vàng, có mặt hột màu vàng; 01 (một) chiếc nhẫn cưới vàng, loại vàng 610; 01 (một) chiếc nhẫn vàng, có mặt đồng tiền vàng, loại vàng 610; 01 (một) sợi dây chuyền vàng, loại vàng 610; 01 (một) mặt sợi dây chuyền vàng, loại vàng 610; 01 (một) chiếc lắc vàng, loại vàng 610.
- [3] Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 10/KL-HĐ ĐGTS ngày 22/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: 01 (một) chiếc nhẫn vàng, có mặt hột màu vàng, loại vàng 610 có trọng lượng 1,33 chỉ; 01 (một) chiếc nhẫn cưới vàng, loại vàng 610 trên nhẫn có chữ TKJ10 có trọng lượng 0,81 chỉ; 01 (một) chiếc nhẫn vàng, có mặt đồng tiền vàng, loại vàng 610 trên nhẫn có dòng chữ TKJ810TR có trọng lượng 0,385 chỉ; 01 (một) sợi dây chuyền vàng, loại vàng 610, trên sợi dây chuyền có dòng chữ TKJ610-TR có trọng lượng 1,365 chỉ; 01 (một) mặt sợi dây chuyền vàng, loại vàng 610, trên mặt có hình con rồng và ký hiệu TD610 có trọng lượng 0,745 chỉ; 01 (một) chiếc lắc vàng, loại vàng 610, trên chiếc lắc có dòng chữ THU-610 trọng lượng 0,385 chỉ. Tổng tài sản có tổng giá trị vào thời điểm mất trộm là 16.029.666 đồng.
- [4] Như vậy, hành vi lấy trộm tài sản của bị cáo K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tuy nhiên, do bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt bị cáo 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự (Tái phạm nguy hiểm), bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 05/8/2023 nhưng đến ngày 14/02/2024 lại phạm tội, như vậy tính đến ngày phạm tội bị cáo chưa được xóa án tích nên hành vi phạm tội của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng số 14/CT-VKS-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long đã truy tố Dương Văn K là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Cần phải được xử phạt theo tội danh và hình phạt mà điều luật đã quy định.
- [5] Bị cáo là những người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi lấy trộm các tài sản của anh N, chị T1 là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện và thực hiện đến hoàn thành tội phạm.
- [6] Xét về lỗi, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, về động cơ mục đích phạm tội các bị cáo thực hiện hành vi lấy trộm tài sản của bị hại để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, trả nợ. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại được pháp luật thừa nhận và bảo vệ; ngoài ra hành vi của bị cáo còn gây ra làm mất an ninh trật tự ở địa phương, nên việc đưa bị cáo ra xét xử ngày hôm nay là hoàn toàn phù hợp nhằm răn đe phòng ngừa chung.
- [7] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giãm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1, bị cáo đầu thú được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Qua xem xét tình tiết tăng nặng, giãm nhẹ trách nhiệm hình sự, tình chất, mức độ của hành vi của bị cáo gây ra, xét thấy cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo học tập, cải tạo.
- [8] Về trách nhiệm dân sự: Do chị T1, anh N và bà N1 đã nhận lại tài sản xong, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- [9] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã giao trả gồm: 01 (một) chiếc nhẫn vàng, có mặt hột màu vàng, loại vàng 610; 01 (một) chiếc nhẫn cưới vàng, loại vàng 610; 01 (một) chiếc nhẫn vàng, có mặt đồng tiền vàng, loại vàng 610; 01 (một) sợi dây chuyền vàng, loại vàng 610; 01 (một) mặt sợi dây chuyền vàng, loại vàng 610; 01 (một) chiếc lắc vàng, loại vàng 610; Tiền Việt Nam tổng cộng 14.850.000 đồng cho anh N và bà N1 xong nên không đặt ra xem xét xử lý.
- [10] Đối với bà Trương Thị N1, anh Lê Văn C, anh Lê Hoàng D, bà Nguyễn Thị T2 và bà Trần Thị L1, cơ quan điều tra Công an huyện P không đề cặp, xử lý là có căn cứ.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Dương Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
- Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: không đặt ra xem xét giải quyết.
- Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Dương Văn K với mức án 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 17/02/2024.
Buộc bị cáo Dương Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
Bản án hình sự sơ thẩm bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết công khai bản án theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Quách Thanh T |
Bản án số 16/2024/HSST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 16/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Duong Van Khanh trom cap tai san
