|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2024/HS-ST Ngày: 02 – 05 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tôn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Chẩn
Ông Nguyễn Tấn Thành
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Phan Quốc Trung - Kiểm sát viên.
Từ ngày 25, 26 tháng 04 và ngày 02 tháng 05 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 03 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Ngô Vĩnh P. (Tên gọi khác: Phúc lai), sinh ngày 05 tháng 04 năm 1987 tại thị xã S, tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: khu phố P, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: không; số CCCD: [...], cấp ngày 24/10/2022, nơi cấp: Cục C2 về TTXH – Bộ C3; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Khắc L, sinh năm 1965 và bà Ngô Thị Hồng T, sinh năm 1962; có vợ: Nguyễn Hồng M, sinh năm 1989 và con ruột 02 người sinh năm 2015 và 2017; tiền án: Ngày 12/12/2017, TAND thị xã Sông Cầu tuyên phạt tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) về tội Đánh bạc theo bản án số 40/2017/HS-ST, hiện chưa thi hành khoản tiền 10.000.000đ và 200.000đ tiền án phí HSST; tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 09/10/2020, bị Công an thị xã S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trên lĩnh vực an ninh trật tự, về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý với số tiền 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng) đã chấp hành đóng phạt vào ngày 16/10/2023; Ngày 13/04/2023 có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý bị Công an thị xã S bắt quả tang tại L, X, Sông C, ngày 21/04/2023 cơ quan CSĐT – Công an thị xã S ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Ngô Vĩnh P về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, ngày 03/11/2023 cơ quan CSĐT – Công an thị xã S ra Quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự Tàng trữ trái phép chất ma tuý quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; bị bắt tạm giam từ ngày 13/04/2023 tại Nhà Tạm giữ Công an thị xã S. Bị cáo tạm giam, có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Trần Nhật H. (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 18 tháng 10 năm 2001, tại thị xã S, tỉnh Phú Yên. Nơi thường trú: khu phố P, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; nơi ở hiện tại: thôn L, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: không; số CCCD: [...], cấp ngày 18/11/2022, nơi cấp: Cục C2 về TTXH – Bộ C3; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Kim H1, sinh năm 1976 và bà Huỳnh Thị Ngọc C, sinh năm 1976; vợ con chưa có; tiền án: Ngày 31/7/2019, Toà án nhân dân thị xã Sông Cầu tuyên phạt 03 (ba) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Ngày 18/8/2021 chấp hành xong án phạt tù; tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 28/01/2022 Công an thị xã S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực an ninh trật tự, về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý với số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) đã chấp hành đóng phạt vào ngày 18/03/2022; Ngày 13/04/2023 có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý bị Công an thị xã S bắt quả tang tại L, X, Sông C, ngày 05/05/2023 cơ quan CSĐT – Công an thị xã S ra Quyết định khởi tố bị can đối với Trần Nhật H về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, ngày 15/01/2024 cơ quan CSĐT – Công an thị xã S ra Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố bị can đối với Trần Nhật H về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; bị bắt tạm giam từ ngày 09/05/2023 tại Nhà Tạm giữ Công an thị xã S. Bị cáo tạm giam, có mặt tại phiên toà.
3. Họ và tên: Lê Anh D. (Tên gọi khác: D chó dại), sinh ngày 28 tháng 08 năm 1986 tại thị xã S, tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: khu phố L, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: không; số CCCD: [...], cấp ngày 18/10/2022, nơi cấp: Cục C2 về TTXH – Bộ C3; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Xuân S (chết) và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1966; vợ con chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 16/6/2004 Công an huyện S (nay là Công an thị xã S) bắt đưa đi trường G (sáu) tháng theo Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh P; Ngày 25/6/2007 Công an huyện S (nay là Công an thị xã S) bắt đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời gian 24 (hai mươi bốn) tháng theo Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh P; Ngày 04/11/2011 Công an thị xã S bắt đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời gian 24 (hai mươi bốn) tháng theo Quyết định số: 1829/UBND ngày 03/11/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh P; Ngày 19/9/2016 bị Công an thị xã S xử phạt 750.000đ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý dạng cỏ mỹ đã nộp phạt xong ngày 04/10/2016; Ngày 23/9/2016 bị Công an thị xã S xử phạt 1.000.000đ (Một triệu đồng) về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý dạng cỏ mỹ đã nộp phạt xong ngày 04/10/2016; Ngày 28/8/2019 Toà án nhân dân thị xã Sông Cầu tuyên phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Chống người thi hành công vụ, theo bản án số 26/2019/HSST. Ngày 11/12/2020 chấp hành xong án phạt tù; Ngày 13/04/2023 có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý bị Công an thị xã S bắt quả tang tại L, X, Sông C, ngày 21/04/2023 cơ quan CSĐT – Công an thị xã S khởi tố bị can đối với Lê Anh D về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị bắt tạm giam từ ngày 13/04/2023 tại Nhà Tạm giữ Công an thị xã S. Bị cáo tạm giam, có mặt tại phiên toà.
4. Họ và tên: Nguyễn Văn N. (Tên gọi khác: C1), sinh ngày 25 tháng 01 năm 2004 tại thị xã S, tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: khu phố P, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: không; số CCCD: [...], cấp ngày 18/11/2021, nơi cấp: Cục C2 về TTXH – Bộ C3; trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn T1, sinh năm 1969 và bà Ngô Thị H3, sinh năm 1975; vợ con chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 13/04/2023 có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý bị Công an thị xã S bắt quả tang tại L, X, Sông C, ngày 05/05/2023 cơ quan CSĐT – Công an thị xã S khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn N về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị bắt tạm giam từ ngày 09/05/2023 tại Nhà Tạm giữ Công an thị xã S. Bị cáo tạm giam, có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1966; nơi cư trú: khu phố L, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Người làm chứng: Trần Văn S1, sinh năm 2005; nơi cư trú: Khu phố P, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 11/4/2023 Nguyễn Ngô Vĩnh P rủ Trần Nhật H đi thành phố T chơi và được H đồng ý. Sau đó H điều khiển xe mô tô EXCITER màu đỏ biển số 78D1-274.69 của P để chở P đi từ thị xã S vào thành phố T. Khi đến khu vực chợ T3 thành phố T, tỉnh Phú Yên thì H đứng chờ bên đường còn P một mình đi gặp một thanh niên lạ mua 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) ma tuý đá. Sau khi mua xong, P đi ra và được H chở về nhà của P ở khu phố P, phường X, thị xã S. Tại đây, để tiện sử dụng P đã phân ra thành 06 (sáu) túi nilon ma tuý đá nhỏ đưa cho H cất giữ để khi nào có nhu cầu thì sử dụng.
Sáng ngày 13/4/2023, Trần Văn S1 sinh ngày 03/9/2005 đến nhà H tại thôn L, xã X, thị xã S chơi, tại đây H và S1 có ý định sử dụng ma tuý đá nên H gọi điện thoại cho P để xin 01 (một) túi ma tuý đá để sử dụng cùng S1. Được P đồng ý nên H lấy 01 (một) túi ma tuý và dụng cụ sử dụng ma tuý để cùng S1 sử dụng tại nhà H. Sau khi sử dụng xong 01 (một) túi ma tuý đá thì S1 đi về nhà. Khoảng 14 giờ cùng ngày 13/4/2023, Nguyễn Ngô Vĩnh P rủ Trần Nhật H đến quán C4 thuộc khu phố L, phường X, thị xã S sử dụng ma tuý đá, H đồng ý rồi mang theo tất cả số ma tuý còn lại mà P gửi cho H cất giữ là 05 (năm) túi và 01 (một) cái nỏ thuỷ tinh đến quán C4 để sử dụng ma tuý. Tại đây, H lấy ma tuý và dụng cụ sử dụng ra để chuẩn bị sử dụng thì có người vào quán nên H lấy ma tuý ngậm vào miệng, sau đó P và H thống nhất đến nhà Lê Anh D tại khu phố L, phường X, thị xã S để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. P và H đến nhà D gặp D, P rủ D sử dụng ma tuý thì D đồng ý. P và Hoàng ngồi ở khu vực hành lang nối dài giữa phòng khách và phòng bếp trước cửa phòng ngủ của D, còn D đi ra phía sau nhà lấy dụng cụ để cả nhóm sử dụng ma tuý gồm: chai nhựa, ống hút, nỏ thuỷ tinh rồi để xuống nền nhà tại vị trí P, H đang ngồi. D chỉ vị trí để cái kéo trong phòng cho P và H biết rồi đi tắm, H vào phòng đến vị trí D đã chỉ dẫn lấy 01 cái kéo ra đưa cho P để cắt túi nilon ma túy cùng sử dụng. P lấy 05 túi nilon ma tuý mà H mang đến để dưới nền nhà, sau đó lấy 02 túi nilon ma tuý trong số đó bỏ vào trong gói thuốc lá, 02 túi nilon ma tuý bỏ vào túi quần cất giấu, 01 túi nilon ma tuý còn lại P dùng kéo cắt vào trong nỏ thì D đến ngồi với P và H cùng nhau sử dụng ma tuý. Lúc này, Trần Văn S1 nhắn tin hỏi Trần Nhật H “Đang ở đâu” thì H trả lời “Đang ở nhà anh D” nên S1 đến nhà D rồi ngồi xuống vị rí P, H, D đang sử dụng ma tuý. P tiếp tục dùng kéo cắt 01 túi nilon ma tuý đổ vào nỏ rồi cùng với H, D, S1 sử dụng. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày trong lúc Nguyễn Văn N đi tìm P thì thấy xe mô tô P dựng tại nhà D nên N đi vào nhà. Tại đây, N gặp P, H, D, S1 đang sử dụng ma tuý nên N đến ngồi cầm nỏ sử dụng ma túy. Lúc này có bà Nguyễn Thị H2 là mẹ ruột của Lê Anh D về nên cả nhóm di chuyển vào phòng ngủ của D để tiếp tục sử dụng ma túy. P lấy thêm 01 túi nilon ma tuý đưa cho N rồi N dùng kéo cắt bì ma tuý đổ vào nỏ, do lúc này S1, H, P, D đang dùng điện thoại chơi game nên N cầm nỏ sử dụng ma tuý rồi N lần lượt đưa ống hút vào miệng cho S1, H, P, D sử dụng ma tuý. Đến 17 giờ cùng ngày, trong lúc P, D, H, N, S1 đang sử dụng ma tuý thì bị Công an thị xã S kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ ma túy cùng các dụng cụ sử dụng ma túy.
Trong quá trình điều tra ban đầu bị cáo Trần Nhật H khai tình tiết có cất giữ số ma túy mà Nguyễn Ngô Vĩnh P đã đưa cho H tại nhà P nhưng sau đó H khai không cất giữ ma túy mà P đã đưa và H không khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, nhưng quá trình điều tra đủ cơ sở khẳng định H cất giữ 06 (sáu) túi nilon ma tuý do P mua về phân ra rồi đưa cho H cất giữ để khi nào có nhu cầu thì cùng sử dụng, đồng thời H mang theo 05 (năm) bì ma tuý đến quán cà phê “Vô Thường” để cùng P sử dụng và sau đó đem đến nhà Lê Anh D để tổ chức sử dụng thì bị bắt quả tang có đủ căn cứ xác định Nguyễn Ngô Vĩnh P và Trần Nhật H còn có hành vi cất giữ bất hợp pháp 02 túi nilon ma tuý, khối lượng 0,165 gam loại Methamphetamine để sử dụng.
Bị cáo Trần Nhật H khai không tổ chức cho Trần Văn S1 sử dụng trái phép chất ma tuý vào lần sáng ngày 13/4/2023 nhưng căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có đủ căn cứ xác định vào ngày 13/4/2023 tại nhà bà Huỳnh Thị Ngọc C là mẹ ruột H ở thôn L, xã X, bị cáo Trần Nhật H có hành vi tổ chức cho Trần Văn S1 sử dụng trái phép chất ma tuý.
Tại kết luận giám định số 165/GĐ-PC09 ngày 21/4/2023 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: Tinh thể màu trắng trong túi nilon trong suốt hàn kín (ký hiệu A1 gồm A1.1 = 0,088g, A2.2 = 0,077g) là ma túy có tổng khối lượng 0,165gam, loại Methamphetamine. Tinh thể màu trắng trong túi nilon trong suốt hở một đầu (ký hiệu A2) là ma túy, loại Methamphetamine. Vì lượng bám dính ít nên không xác định được khối lượng. Tinh thể màu trắng trong 02 túi nilon trong suốt hở một đầu (ký hiệu A3 gồm A3.1, A3.2) là ma túy, loại Methamphetamine. Vì lượng bám dính ít nên không xác định được khối lượng.
Các bị cáo Nguyễn Ngô Vĩnh P, Lê Anh D, Nguyễn Văn N, đã thành khẩn khai báo. Riêng bị cáo Nguyễn Ngô Vĩnh P có ông nội, bà nội ruột là người có công với cách mạng. Các bị cáo Nguyễn Ngô Vĩnh P, Trần Nhật H thuộc trường hợp tái phạm.
Về vật chứng: Có bản kê kèm theo.
Tại bản Cáo trạng số: 09/CT-VKSSC ngày 05 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu đã truy tố các bị cáo Nguyễn Ngô Vĩnh P, Trần Nhật H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Lê Anh D, Nguyễn Văn N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Ngô Vĩnh P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu đã truy tố và thừa nhận Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là hoàn toàn đúng tội.
Bị cáo Trần Nhật H tại quá trình khởi tố, truy tố và phần xét hỏi tại phiên toà, bị cáo không nhận tội đối với 02 hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” cho Trần Văn S1 tại nhà bà Huỳnh Thị Ngọc C (mẹ Trần Nhật H). Tuy nhiên, tại phần tranh luận bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu đã truy tố và thừa nhận Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, cũng như lời luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là hoàn toàn đúng tội, không oan gì cho bị cáo.
Các bị cáo Lê Anh D, Nguyễn Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu đã truy tố và thừa nhận Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” là hoàn toàn đúng tội.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố tại bản cáo trạng số 09/CT-VKSSC ngày 05 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Căn cứ tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:
Bị cáo Nguyễn Ngô Vĩnh P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngô Vĩnh P từ 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng đến 08 (T2) năm tù đối với tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (S2) tháng tù đối với tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của hai tội. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là từ 08 (T2) năm 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) năm 06 (S2) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/4/2023.
Bị cáo Trần Nhật H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Nhật H từ 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng đến 08 (T2) năm tù đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (S2) tháng tù đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của hai tội. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là từ 08 (T2) năm 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) năm 06 (S2) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09/5/2023.
Các bị cáo Lê Anh D, Nguyễn Văn N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo Lê Anh D từ 07 (Bảy) năm đến 07 (Bảy) năm 06 (S2) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/4/2023; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 07 (B) năm đến 07 (Bảy) năm 06 (S2) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09/5/2023.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Ngô Vĩnh P, Trần Nhật H, Lê Anh D, Nguyễn Văn N.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) nỏ thuỷ tinh bị nát vỡ vụn, 01 (một) chai nhựa trên nắp chai có gắn 01 (một) ống hút nhựa màu xanh, 01 (một) cái kéo, 01 (một) quẹt ga có ghi chữ “Hoa Việt”, 01 (một) nỏ thuỷ tinh không bị hư hỏng.
- - Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu S3 A20s gắn sim số 0373348646; 01 (một) điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu REDMI cùng sim số 0354334935.
- - Tiêu huỷ: số ma tuý đá còn lại sau giám định 0,113 gam Methamphetamine theo kết luận giám định số 165/KL-KTHS ngày 21/4/2023 của phòng K Công an tỉnh P.
- - Trả lại 01 (một) điện thoại di động màu đen, mặt lưng màu đỏ, nhãn hiệu Samsung gắn sim số 0367785831 cho chủ sở hữu Lê Anh D; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh – đen (không gắn sim).
Đối với người thanh niên bán ma túy cho Nguyễn Ngô Vĩnh P do không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S không đủ thông tin để tiến hành xác minh xử lý.
Đối với bà Nguyễn Thị H2 (là chủ nhà) nhưng bà H2 không biết Nguyễn Ngô Vĩnh P, Lê Anh D, Trần Nhật H, Nguyễn Văn N tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của bà H2 nên không cấu thành tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Đối với bà Huỳnh Thị Ngọc C (mẹ Trần Nhật H là chủ nhà) không biết Trần Nhật H tổ chức cho Trần Văn S1 sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của bà C nên không cấu thành tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Đối với Trần Văn S1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Cơ quan CSĐT Công an thị xã S đã chuyển xử phạt vi phạm hành chính nên HĐXX không xem xét.
Lời nói sau cùng của các bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Ngô Vĩnh P: Bị cáo thấy hành vi của mình là sai trái, bị cáo ăn năn hối hận nhiều, thấy có lỗi với vợ con và gia đình. Mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm quay về làm công dan có ích cho xã hội.
Bị cáo Trần Nhật H: Bị cáo ăn năn hối hận về hành vi của mình, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Lê Anh D: Bị cáo thấy hành vi của mình là sai trái, có lỗi với gia đình, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm quay về hoàn lương.
Bị cáo Nguyễn Văn N: Mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt, bị cáo đã ăn năn hối hận về hành vi của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, các quyết định tố tụng của Điều tra viên, của Cơ quan điều tra Công an thị xã S và Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với nhau; phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, Kết luận giám định số 165/GĐ-PC09 ngày 21/4/2023 của Phòng K Công an tỉnh P và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 17 giờ ngày 13/4/2023, tại nhà của bà Nguyễn Thị H2 thuộc khu phố L, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, Nguyễn Ngô Vĩnh P, Lê Anh D, Trần Nhật H, Nguyễn Văn N có hành vi cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tổ chức cho Trần Văn S1 (sinh ngày 03/9/2005) sử dụng trái phép chất ma túy thì bị lực lượng Công an thị xã S bắt quả tang. Vào sáng ngày 13/4/2023, tại nhà của bà Huỳnh Thị Ngọc C (mẹ ruột của H) thuộc thôn L, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, Trần Nhật H và Nguyễn Ngô Vĩnh P còn có hành vi tổ chức cho Trần Văn S1 (sinh ngày 03/9/2005) sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra Nguyễn Ngô Vĩnh P, Trần Nhật H còn có hành vi cất giữ bất hợp pháp 02 tui nilon ma tuý trong túi quần, khối lượng 0,165 gam, loại Methamphetamine nhằm để sử dụng. Nên hành vi của các bị cáo Nguyễn Ngô Vĩnh P, Trần Nhật H đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; hành vi của các bị cáo Lê Anh D, Nguyễn Văn N đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Do đó Cáo trạng số 09/CT-VKSSC ngày 05 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên truy tố các bị cáo Nguyễn Ngô Vĩnh P, Trần Nhật H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; các bị cáo Lê Anh D, Nguyễn Văn N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội ở địa phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, các bị cáo nhận thức rõ tác hại của chất ma tuý, biết việc tổ chức sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện nên cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục các bị cáo thành công dân tốt cho gia đình và xã hội.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thì thấy:
Vụ án có 04 bị cáo và thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên với mức độ của từng bị cáo có khác nhau
[4.1] Đối với bị cáo Nguyễn Ngô Vĩnh P, là người trực tiếp mua ma túy và là người rủ rê, cung cấp ma túy cho các bị cáo khác sử dụng, trong đó có Trần Văn S1 là người dưới 18 tuổi. Bị cáo có nhân thân xấu khi bị xử phạt vi phạm hành chính 02 lần về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, có 01 tiền án cụ thể: ngày 12/12/2017 Toà án nhân dân thị xã Sông Cầu tuyên phạt 10.000.000đ (Mười triệu đồng) về tội Đánh bạc theo bản án số 40/2017/HS-ST, đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội lần này bị cáo chưa thi hành đóng tiền phạt nên bị cáo chưa được xoá án tích, là thuộc trường hợp tái phạm nên cần phải xử lý nghiêm mới đảm bảo tác dụng giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung loại tội phạm này cho xã hội. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo và có nhân thân là ông bà nội là người có công với cách mạng, có “Huân chương kháng chiến hạng nhì”, “Kỷ niệm chương chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù, đày” và có chứng nhận của Hội tù chính trị yêu nước tỉnh Phú Yên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS nên áp dụng cho bị cáo để xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo trở thành công dân tốt và có ích cho xã hội.
[4.2] Đối với bị cáo Trần Nhật H, là người trực tiếp cất giữ ma túy của bị cáo P, là người trực tiếp tổ chức cho Trần Văn S1 dưới 18 tuổi sử dụng tại nhà mẹ bị cáo là bà Huỳnh Thị Ngọc C và tại nhà bị cáo D. Bị cáo có nhân thân xấu khi bị xử phạt vi phạm hành chính 01 lần về hành vi Đánh bạc và 01 lần về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo có 01 tiền án, cụ thể: Ngày 31/7/2019 Toà án nhân dân thị xã Sông Cầu tuyên phạt 03 (ba) năm tù về tội danh Mua bán trái phép chất ma tuý, ngày 18/8/2021 chấp hành xong án phạt tù, đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đang trong thời hạn án tích, thuộc trường hợp tái phạm. Bị cáo có 01 tiền sự, cụ thể: Ngày 24/6/2022, bị Công an thị xã S xử phạt vi phạm hành chính 5.000.0000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích, bị cáo chưa chấp hành nộp phạt. Điều đó cho thấy bị cáo rất xem thường pháp luật nên cần phải xử lý nghiêm và cũng phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung loại tội phạm này cho xã hội. Tuy có lúc bị cáo không nhận tội nhưng qua phân tích của HĐXX và Kiểm sát viên tham gia phiên tòa chứng minh hành vi đồng phạm trong tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với bị cáo P và hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” cho Trần Văn S1 tại nhà của mẹ bị cáo, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
[4.3] Đối với bị cáo Lê Anh D, khi biết bị cáo P và H đem ma túy đến nhà mình sử dụng thì đồng ý ngay và cung cấp dụng cụ sử dụng cho P và H, đồng thời tổ chức cho Trần Văn S1 dưới 18 tuổi sử dụng. Bị cáo có nhân thân xấu khi bị xử phạt vi phạm hành chính 02 lần về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, 01 lần bị đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng về hành vi cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng và bị Toà án nhân dân thị xã Sông Cầu xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Chống người thi hành công vụ nên cần phải xử lý nghiêm và cũng phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung loại tội phạm này cho xã hội. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
[4.4] Đối với bị cáo Nguyễn Văn N, khi biết bị cáo P sử dụng ma túy tại nhà bị cáo D thì cùng tham gia, nấu ma túy cho các bị cáo P, H, D và Trần Văn S1 dưới 18 tuổi sử dụng. Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - 01 (một) nỏ thuỷ tinh bị nát vỡ vụn, 01 (một) chai nhựa trên nắp chai có gắn 01 (một) ống hút nhựa màu xanh, 01 (một) cái kéo, 01 (một) quẹt ga có ghi chữ “Hoa Việt”, là công cụ, dụng cụ dùng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nên tịch thu tiêu hủy.
- - 01 (một) nỏ thuỷ tinh không bị hư hỏng của Trần Nhật H, đây là công cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng bị cáo H chưa sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
- - 01 (một) điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu S3 A20s gắn sim số 0373348646; 01 (một) điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu REDMI gắn sim số 0354334935 có liên quan đến việc rủ rê để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- - Số ma tuý đá còn lại sau giám định 0,113 gam Methamphetamine theo kết luận giám định số 165/KL-KTHS ngày 21/4/2023 của phòng K Công an tỉnh P là vật cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu huỷ.
- - 01 (một) điện thoại di động màu đen, mặt lưng màu đỏ, nhãn hiệu Samsung gắn sim số 0367785831 không liên quan đến hoạt động tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nên trả lại cho chủ sở hữu Lê Anh D.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh – đen (không gắn sim) không liên quan đến hoạt động tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nên trả lại cho chủ sở hữu Trần Văn S1.
[6] Đối với bà Nguyễn Thị H2 (là chủ nhà) nhưng bà H2 không biết Nguyễn Ngô Vĩnh P, Lê Anh D, Trần Nhật H, Nguyễn Văn N tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của bà H2 nên không cấu thành tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” nên HĐXX không xem xét.
[7] Đối với bà Huỳnh Thị Ngọc C (mẹ Trần Nhật H là chủ nhà) không biết Trần Nhật H tổ chức cho Trần Văn S1 sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của bà C nên không cấu thành tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” nên HĐXX không xem xét.
[8] Đối với Trần Văn S1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Cơ quan CSĐT Công an thị xã S đã chuyển xử phạt vi phạm hành chính nên HĐXX không xem xét.
[09] Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Về án phí: Các bị cáo P, H, D, N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- + Điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đối với bị cáo Nguyễn Ngô Vĩnh P;
- + Điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đối với bị cáo Trần Nhật H;
- + Điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đối với các bị cáo Lê Anh D, Nguyễn Văn N.
Tuyên bố:
- Các bị cáo Nguyễn Ngô Vĩnh P, Trần Nhật H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Các bị cáo Lê Anh D, Nguyễn Văn N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
1. Xử phạt:
- - Bị cáo Nguyễn Ngô Vĩnh P 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 BLHS buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù chung của 02 tội là 08 năm (T2) 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam từ ngày 13/4/2023.
- - Bị cáo Trần Nhật H 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 BLHS buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù chung của 02 tội là 08 năm (T2) 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam từ ngày 09/5/2023.
- - Bị cáo Lê Anh D 07 (B) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam từ ngày 13/4/2023.
- - Bị cáo Nguyễn Văn N 07 (B) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam từ ngày 09/5/2023.
2. Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) nỏ thuỷ tinh bị nát vỡ vụn, 01 (một) chai nhựa trên nắp chai có gắn 01 (một) ống hút nhựa màu xanh, 01 (một) cái kéo, 01 (một) quẹt ga có ghi chữ “Hoa Việt”, 01 (một) nỏ thuỷ tinh không bị hư hỏng, Số ma tuý đá còn lại sau giám định 0,113 gam Methamphetamine theo kết luận giám định số 165/KL-KTHS ngày 21/4/2023 của Phòng K Công an tỉnh P.
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu S3 A20s gắn sim số 0373348646; 01 (một) điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu REDMI cùng sim số 0354334935.
- - Trả lại cho Lê Anh D 01 (một) điện thoại di động màu đen, mặt lưng màu đỏ, nhãn hiệu Samsung gắn sim số 0367785831; Trần Văn S1 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh – đen (không gắn sim).
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01 tháng 12 năm 2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thị xã S và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu.
3. Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Ngô Vĩnh P, Trần Nhật H, Lê Anh D, Nguyễn Văn N mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo Nguyễn Ngô Vĩnh P, Trần Nhật H, Lê Anh D, Nguyễn Văn N 45 (Bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo cho công tác thi hành án.
4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Văn Tôn |
Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 16/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
