Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 16/2024/KDTM-PT

Ngày: 27/9/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung

Các thẩm phán: Bà Lê Thị Tố Như

Bà Lê Thị Thuỷ

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi — Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: Bà Lê Thị Tranh — Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 14/2024/TLPT- KDTM ngày 05 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 07/2024/KDTM-ST ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá bị Nguyên đơn và Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Trịnh Xuân L, bà Trịnh Thị T kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 14/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 15/2024/QĐ-PT ngày 17/9/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã V
  2. Địa chỉ: Số A, G, quận Đ, thành phố Hà Nội

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Công B, Tổng giám đốc;

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Xuân H.

    Địa chỉ: Số B, tổ A, phường Ô, quận Đ, TP Hà Nội.

  3. Bị đơn: Hợp tác xã nhân đạo tháng năm
  4. Địa chỉ: Thôn M, P. Q, TP T, tỉnh Thanh Hóa.

    Người đại diện theo pháp luật: Bà Vũ Thị T1 — Giám đốc.

    Địa chỉ: Số A L, phường Đ, thành phố T.

  5. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Trịnh Xuân L, sinh năm 1954
    2. Bà Trịnh Thị T, sinh năm 1960
    3. Người đại diện theo ủy quyền của bà T: Ông Trịnh Xuân C

      Cùng địa chỉ: Số C, đường T, phố T, phường Q, TP T, tỉnh Thanh Hóa

      Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T: Ông Phạm Văn M, Phạm Văn S — Luật sư Công ty TNHH N, đoàn luật sư T7.

      Địa chỉ: số G T, phường Đ, thành phố T.

      Đại diện theo ủy quyền của ông L: Ông Trịnh Xuân H1.

      Địa chỉ: Căn hộ B - (ch05) B - Tầng A - Tòa nhà W, khu đô thị M, quận H, thành phố Hà Nội.

    4. Ủy ban nhân dân thành phố T.
    5. Địa chỉ: Đường N, phường Đ, thành phố T.

      Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Tiến D - chuyên viên phòng tài nguyên và môi trường UBND thành phố T.

    6. Phòng C2 tỉnh Thanh Hóa
    7. Địa chỉ: Số C Đại lộ L, phường Đ, thành phố T.

      Đại diện theo pháp luật: Bà Trịnh Thị Hồng M1 - Phó trưởng phòng phụ trách.

    8. Bà Trịnh Thị H2, ông Lê Mạnh H3.
    9. Địa chỉ: Số D, đường T, phường Đ, TP T.

    10. Ông Bùi Văn D1
    11. Địa chỉ: Lô A. MBQH 1503, phố T, phường Q, TP T.

Tại phiên tòa có mặt Nguyên đơn, Bị đơn, người có quyền, nghĩa vụ liên quan là ông L, bà H2, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T2 và Người đại diện theo uỷ quyền của ông L, bà T. Vắng mặt những người tham gia tố tụng còn lại.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 09/8/2010, Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX và Hợp tác xã V ký hợp đồng tín dụng số 206/HĐTD. Theo thỏa thuận tại hợp đồng, Quỹ Hỗ trợ phát triển Hợp tác xã giải ngân cho HTX V vay số tiền: 2.500.000.000đ, thời hạn vay 48 tháng, lãi suất cho vay trong hạn: 5,76%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, phương thức thanh toán: trả nợ gốc + lãi theo quý.

Tài sản đảm bảo:

  • Tài sản 1: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK417292 do UBND tỉnh T cấp ngày 02/11/2007, diện tích đất thuê 1.315m² tại thửa đất số 1560 tờ bản đồ số 06. Tài sản gắn liền trên đất bao gồm: nhà văn phòng + giới thiệu sản phẩm (công trình cấp 4 – 02 tầng) được xây dựng năm 2008 với diện tích xây dựng là 1.123,16m², diện tích sàn xây dựng 247,8m². Chủ sở hữu là HTX V (đại diện theo pháp luật bà Vũ Thị T1).
  • Tài sản 2: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD393692 do UBND thành phố T cấp ngày 31/10/2005 mang tên ông Trịnh Xuân L và bà Trịnh Thị T tại địa chỉ phố T, phường Q, thành phố T, diện tích đất được cấp là 275m² (trong đó 200m² đất ở và 75m² đất vườn). Hợp đồng thế chấp số 208 ngày 09/8/2010 giữa người thế chấp là ông Trịnh Xuân L và bà Trịnh Thị T, bên nhận thế chấp là Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX, bên vay tiền là HTX V và được phòng C tỉnh Thanh Hóa chứng thực.

Quá trình thực hiện hợp đồng thời gian đầu HTX V thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ và đã trả cho Q được 415.000.000 đồng nợ gốc; 129.693.000 đồng nợ lãi, đến cuối năm 2011 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo cam kết tại hợp đồng, Quỹ Hỗ trợ phát triển đã thông báo, đôn đốc nhiều lần nhưng HTX V vẫn không trả được nợ. Tính đến ngày khởi kiện (30/4/2020) HTX V còn nợ số tiền là:

  • Số tiền nợ gốc quá hạn: 2.085.000.000₫
  • Tiền nợ lãi quá hạn: 2.344.345.000₫

Sau khi Quỹ Hỗ trợ phát triển Hợp tác xã khởi kiện, HTX nhân đạo tháng năm vẫn chưa trả được đồng nào. Do đó tính đến thời điểm ngày 13/6/2024 HTX nhân đạo tháng năm còn nợ 6.348.028.000 đồng (trong đó nợ gốc: 2.085.000.000 đồng; nợ lãi quá hạn: 4.263.028.000 đồng). Nay quỹ đề nghị Tòa án buộc HTX V phải có nghĩa vụ thanh toán hết số nợ gốc là: 2.085.000.000đ và khoản tiền lãi 4.263.028.000 đồng.

Trong trường hợp HTX V không trả được nợ, Quỹ Hỗ trợ phát triển Hợp tác xã đề nghị cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Q.

* Ý kiến của bị đơn:

Năm 2010 HTX Nhân đạo Tháng Năm được Quỹ hỗ trợ và phát triển L1 cho vay vốn để đầu tư cơ sở dạy nghề thêu ren xuất khẩu và nội địa. Theo hợp đồng tín dụng số 206/HĐTD—QHTPTHTX ngày 09/08/2010, tổng số vốn được vay và giải ngân 2.500.000.000 đồng. Với thời hạn 48 tháng, lãi suất là 5,76%.

Tại thời điểm đơn vị được vay HTX đã thế chấp 02 tài sản tại quỹ như sau:

  • Tài sản 1: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK417292 do UBND tỉnh T cấp ngày 02/11/2007, diện tích đất thuê 1.315m2 kèm tài sản của HTX được gắn liền trên đất được thể hiện trên hợp đồng tín dụng mà 2 bên ký kết với giá trị 3.000.000.000 đồng.
  • Tài sản 2: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD393692 do UBND thành phố T với diện tích đất được cấp là 275m² (trong đó 200m² đất ở và 75m² đất vườn). Chủ sở hữu là ông Trịnh Xuân L và bà Trịnh Thị T với nội dung góp vào cho hợp thức hóa các thủ tục theo quy định tại thời điểm hiện tại.

Sau khi HTX được vay giải ngân theo tiến độ đầu tư, việc xây dựng cơ sở vật chất hoàn thiện các hạng mục công trình ổn định thì HTX bước vào hoạt động kinh doanh sản xuất và dạy nghề trên công trình được xây dựng một cách nhịp nhàng, ổn định. HTX lập ra kế hoạch trả lãi và gốc theo định kỳ đã ký với quỹ thể hiện trên hợp đồng nên số tiền đã thanh toán các kỳ đầu còn nợ lại là 2.085.000.000 đồng. Sau thời gian bất cập xảy ra với HTX, tình hình suy thoái kinh tế toàn cầu là vấn nạn chung của thế giới gây ra ảnh hưởng nặng nề lên thị trường hàng xuất khẩu, nhập khẩu lúc bấy giờ. Một mặt, hàng xuất tiền không lấy được. Số hàng đơn vị sản xuất bị tồn đọng nằm lại cao. Hàng nội địa không bán được do người tiêu dùng không có điều kiện mua. Từ những khó khăn mà HTX gặp phải nên Ngân hàng Thương Mại mà đơn vị vay phục vụ kinh doanh lo sợ cùng bị rút vốn. Khó khăn nối tiếp khó khăn nhưng việc hoạt động dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật và trẻ mồ côi mà đơn vị có chức năng phải duy trì không thể ngừng lại được vì họ là những người kém may mắn nên cần sự chung tay góp sức của cộng đồng để có nghề nghiệp ổn định cuộc sống. Hằng năm, đơn vị phải chi tiêu theo khả năng của HTX phục vụ tốt cho công tác từ thiện và nhân đạo trên. Từ những diễn biến khó khăn trong giai đoạn nêu trên, HTX họp xã viên bàn bạc quyết định chuyển nhượng tài sản gắn liền trên đất cơ sở 2 tại địa chỉ H, đường L, phường Đ, thành phố T cho một doanh nghiệp. Mục tiêu và kế hoạch của đơn vị sẽ trả nợ cho quỹ số tiền tồn đọng lại dứt điểm việc nợ nần.

Khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng đã xảy ra sự cố giữa hai bên mua bán tài sản nên hợp đồng tranh chấp trong thời gian dài suốt 6-7 năm, đến nay đơn vị vẫn tiếp tục theo kiện. Tình trạng khó khăn tiếp tục tốn kém, việc Kinh doanh sản xuất đình trệ, sức khỏe bản thân bà T1 suy sụp trầm trọng đến mức gần như buông xuôi. Xã viên HTX phân tán lo âu xin rút vốn đề nghị phá sản, nhiều ý kiến ngược xuôi.

Nay quỹ khởi kiện, HTX thừa nhận số dư nợ gốc như hiện nay là đúng nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn HTX đề nghị Quỹ giảm bớt một phần tiền lãi và cho HTX xin được trả dần cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

* Tại bản tự khai của ông Trịnh Xuân L, bà Trịnh Thị T:

Tháng 6/2010 gia đình ông với gia đình ông Trịnh Đình D2, bà Nguyễn Thị D3 và bà Lê Thị T3 bàn bạc để cùng vay tiền với quỹ hỗ trợ phát triển HTX V, với ý định vay mỗi hộ 100.000.000đ. Ngày 10/8/2010 được nhận hợp đồng thế chấp để vợ chồng ký vào hợp đồng, tuy nhiên quỹ hỗ trợ không đến kiểm kê hiện trạng sử dụng đất, không làm việc trực tiếp với vợ chồng ông nhưng vì chủ quan và tin tưởng bà T3 và thông qua ông Nguyễn Đình D4 nên vợ chồng tôi đã ký vào hợp đồng thế chấp. Cụ thể khoảng 15 giờ bà T mang hợp đồng thế chấp lên cơ quan, do đang chuẩn bị đi công tác ông đã ký nhưng không đọc nội dung của hợp đồng, sau đó bà T đưa hợp đồng cho bà T3 để làm thủ tục công chứng. Sau khi đi công tác về ông đã đọc lại hợp đồng thế chấp thì nhận thấy một số nội dung trong hợp đồng thế chấp không đúng như diện tích đất thực tế là 545m² nhưng trong hợp đồng thế chấp lại xác định diện tích là 275m²; tài sản trên đất là nhà cấp 4 diện tích khoảng 235m² không phải là nhà mái bằng diện tích 135m²; không có việc định giá tài sản vào ngày 17/7/2010, không đồng ý bảo lãnh cho HTV nhân đạo tháng 5 vay vốn. Vợ chồng ông không ký hợp đồng thế chấp trước mặt công chứng viên, địa điểm ký không phải là văn phòng công chứng. Sau khi biết ông T4, bà D3 rút lại hợp đồng thế chấp ông, bà đã nhiều lần yêu cầu bà T3 trả lại giấy CNQSDĐ và bà T3 đã hứa nhiều lần nhưng đến nay không trả. Nay quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã khởi kiện ông, bà đề nghị Tòa án xem xét tuyên bố hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số 203/HĐTC ngày 09/8/2010 vô hiệu do vi phạm nghiêm trọng về mặt hình thức hợp đồng và trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông.

* Văn bản ý kiến của đại diện UBND thành phố T:

Căn cứ thông báo số 416/TB-UBND ngày 15/8/2011 của UBND thành phố T về việc thu hồi để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án phát triển toàn diện kinh tế - xã hội thành phố T, UBND thành phố T quyết định thu hồi đất của 51 hộ dân trong đó có hộ ông Trịnh Xuân L và bà Trịnh Thị T bị thu hồi 121m² đất ở và 214,7m² đất trồng cây lâu năm cùng thửa cùng với tài sản, vật kiến trúc trên đất. Sau khi có quyết định phê duyệt phương án bồi thường, UBND phường Q phối hợp với ban giải phóng mặt bằng tiến hành niêm yết công khai và chi trả bồi thường cho hộ ông L theo đúng quy định của pháp luật. Do thời điểm thực hiện dự án gấp rút về tiến độ giải phóng mặt bằng để thi công nên khi ban giải phóng mặt bằng và tái định cư thành phố T phối hợp với UBND phường Q tổ chức chi trả, bồi thường cho hộ ông Trịnh Xuân L mà chưa thu hồi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để chỉnh lý thu hồi đất theo quy định. Việc chưa thu hồi lại GCNQSDĐ là do UBND phường Q và Ban giải phóng mặt bằng không biết được hộ ông L đã cho bên thứ ba là HTX nhân đạo tháng 5 mượn giấy CNQSD đất để thế chấp tại quỹ tín dụng TW.

Diện tích đất thực tế của hộ ông L trước khi bị thu hồi đất theo trích đo của UBND phường và ban giải phóng mặt bằng là: 525,7m² nhưng trong GCNQSDĐ số H00594 do UBND thành phố T cấp ngày 31/10/2005 có diện tích là 275.0m², trong đó có 200m² đất ở và 75m² đất vườn. Nguồn gốc sử dụng đất của hộ ông Trịnh Xuân L là nhận chuyển nhượng, thửa đất có nguồn gốc hình thành trước ngày 18/12/1980, do đó đề nghị Quỹ phối hợp với hộ ông L, UBND phường Q để xác định nguồn gốc đất, đề nghị cấp đổi lại giấy CNQSDĐ đảm bảo giá trị tài sản thế chấp. Đây là vụ việc dân sự nên đề nghị Tòa án hòa giải để các bên thỏa thuận với nhau, trường hợp các bên không thống nhất được đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Ý kiến của đại diện phòng C2:

Ngày 09/8/2010 phòng Công chứng số 3 tỉnh T (nay đã sát nhập thành phòng C2) thực hiện việc công chứng, chứng thực hợp đồng thế chấp số 203/HĐTC giữa bên thế chấp là ông Trịnh Xuân L và vợ là bà Trịnh Thị T, bên nhận tài sản thế chấp là Quỹ hỗ trợ phát triển Hợp tác xã V. Việc các bên ký kết HĐTC là trên cơ sở tự nguyện, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, ký trước mặt công chứng viên và tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Mặt khác kể từ ngày ký hợp đồng thế chấp cho đến nay đã hết thời hiệu khởi kiện, do đó yêu cầu tuyên bố vô hiệu đối với văn bản công chứng của ông Trịnh Xuân L không có căn cứ chấp nhận, đề nghị Tòa án xem xét.

* Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị H2:

Năm 2018 bà có được UBND thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa đất lô A19 MBQH số 264, phường Q, thành phố T với diện tích là 72m². Nguồn gốc lô đất này là do ông Trịnh Xuân L, bà Trịnh Thị T tặng cho và đã được làm thủ tục tại văn phòng công chứng và sang tên cho bà để sử dụng theo đúng quy định của pháp luật. Năm 2013 bố, mẹ bà thuộc diện bị thu hồi đất và trong diện tích đất được đền bù được mua lại đất tái định cư. Vì vậy bố bà có cho bà mua lại theo diện của gia đình nhưng vợ, chồng bà phải bỏ tiền ra nhờ ông L, bà T mua hộ. Nên năm 2018 đã được sang tên lô đất cho bà theo đúng quy định của pháp luật. Quá trình sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước. Do đó không liên quan gì đến vụ việc tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa quỹ hỗ trợ phát triển Hợp Tác X và Hợp tác xã nhân đạo tháng năm. Vì vậy bà đề nghị Toà án xem xét bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà.

* Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Bùi Văn D1:

Hiện nay ông đang sử dụng lô đất A16, MBQH A, phường Q, thành phố T. Lô đất đã được xây dựng nhà 02 tầng, tổng diện tích xây dựng là 160m², gia đình ông đã sinh sống từ năm 2015 đến nay không có tranh chấp. Nguồn gốc nhà đất là khoảng tháng 5/2015 ông đã được bố, mẹ cho tiền để mua lại lô đất diện tích 80m², trên đất có nhà 02 tầng của vợ chồng anh Lê Văn C1 và chị Tạ Thị Phương T5, sau khi thỏa thuận các bên đã đến văn phòng C3 làm thủ tục chuyển nhượng. Ngày 30/7/2015 đã được UBND thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CA 345022. Từ đó đến nay tôi và gia đình sinh sống không có tranh chấp với ai. Việc mua bán của tôi là hợp pháp không có tranh chấp, bản thân không dùng tài sản này để thế chấp. Do đó đề nghị Toà án xem xét bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tôi.

* Ý kiến của ông Trịnh Xuân C - đại diện theo uỷ quyền cho bà T:

Năm 2012, tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của gia đình ông Trịnh Xuân L, bà Trịnh Thị T tại địa chỉ: thôn T, xã Q, thành phố T đang thế chấp tại Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã nằm trong diện bị thu hồi một phần để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án Phát triển toàn diện Kinh tế - Xã hội, thành phố T. Ban giải phóng mặt bằng và tái định cư thành phố T đã thu hồi 335,7m² trên tổng số diện tích 525,7m², số tiền đền bù gia đình ông L, bà T nhận vào năm 2012 là 1.192.783.000 đồng.

Do tại thời điểm bị thu hồi đất, gia đình ông Trịnh Xuân L, bà Trịnh Thị T có nhiều hộ cùng sinh sống trên thửa đất này nên để đảm bảo đời sống cho các thành viên, gia đình ông L, bà T đã đề nghị, đăng ký được mua đất tái định cư và đã được Ủy ban nhân dân thành phố T phê duyệt cho mua 3 (ba) lô đất tái định cư cụ thể như sau:

  • Lô A16 MBQH số 1502/QĐ-UBND, xã Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa với giá: 200.000.000 đồng.
  • Lô A19 MBQH số 264, xã Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa với giá: 288.000.000 đồng
  • Lô A20 MBQH số 264, xã Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa với giá: 288.000.000 đồng

Tổng cộng số tiền gia đình ông L, bà T bỏ ra để mua đất tái định cư là: 576.000.000 đồng. Sau khi đối trừ thì số tiền gia đình ông L, bà T còn được nhận là: 416.783.000 đồng.

Như vậy, về bản chất gia đình ông L, bà T được nhận đền bù, bồi thường bằng tiền; đối với 03 (ba) lô đất tái định cư là do gia đình tự bỏ tiền ra để mua, đây là chính sách an cư, ổn định đời sống của Nhà nước. Vì vậy yêu cầu của Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã đề nghị đưa 03 (ba) lô đất tái định cư này vào để xử lý bảo đảm cho khoản vay của Hợp tác xã V tại Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã là không có cơ sở.

Hơn nữa, hiện nay Lô A19 MBQH số 264 Q và Lô A MBQH Q đã được chuyển giao, sang tên cho người khác, Lô A thì ông L, bà T hiện đang trực tiếp quản lý, sử dụng, các bên đều đã ở ổn định, không tranh chấp từ đó đến nay. Do đó đề nghị toà án xem xét bác yêu cầu xử lý các tài sản trên của Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã.

* Tại Bản án số 07/2024/KDTM-ST ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá đã quyết định:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 202; Khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 BLTTDS. Điều 51, Điều 52, Điều 54 Luật các tổ chức tín dụng năm 1997; Điều 136; Điều 319; Điều 342; Điều 343; Điều 344; Điều 355 Bộ luật dân sự 2005; Điều 6; khoản 1, 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Quỹ hỗ trợ phát triển Hợp tác xã V.

  1. Buộc Hợp tác xã V phải thanh toán cho Quỹ hỗ trợ phát triển Hợp tác xã V khoản tiền vay còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 206/HĐT ký kết ngày 09/8/2010, số nợ tính đến ngày 13/6/2024 là: 4.317.277.000 đồng (trong đó: Nợ gốc quá hạn là: 2.085.000.000 đồng, nợ lãi là: 2.232.277.000 đồng).

Bên phải thi hành án phải tiếp tục chịu khoản lãi kể từ sau ngày 13/6/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) đối với khoản nợ gốc cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc theo mức lãi suất trong hạn bằng 5,76%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn tại hợp đồng tín dụng số 206/HĐTD ký kết ngày 09/8/2010.

  1. Trong trường hợp bên phải thi hành án không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền trên, bên được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp:
    • Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK417292 do UBND tỉnh T cấp ngày 02/11/2007, tại thửa đất số 1560 tờ bản đồ số 06. Tài sản gắn liền trên đất bao gồm: nhà văn phòng + giới thiệu sản phẩm (công trình cấp 4 – 02 tầng) được xây dựng năm 2008, chủ sở hữu là HTX V (đại diện theo pháp luật bà Vũ Thị T1). Hợp đồng thế chấp số 207/HĐTC-QHTPTHTX ngày 09/8/2010.
    • Khi đã xử lý tài sản đảm bảo của Hợp tác xã nhân đạo tháng năm mà không đủ để thanh toán khoản nợ, Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã V có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất (phần diện tích đất còn lại sau khi đã bị thu hồi đất) và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD393692 do UBND thành phố T cấp mang tên ông Trịnh Xuân L và bà Trịnh Thị T tại địa chỉ phố T, phường Q, thành phố T. Hợp đồng thế chấp số 208 ngày 09/8/2010.
    • Trường hợp các tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ, buộc ông Trịnh Xuân L và bà Trịnh Thị T phải trả lại khoản tiền bồi thường khi nhà nước thu hồi đất số tiền 1.192.783.000 đồng cho Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã V.
    • Sau khi đã xử lý các tài sản bảo đảm và khoản tiền thu từ ông L, bà T mà vẫn không đủ thanh toán khoản nợ, thì Hợp tác xã nhân đạo Tháng Năm tiếp tục trả nợ cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
  2. Không chấp nhận yêu cầu tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng thế chấp số 208 ngày 09/8/2010 của ông Trịnh Xuân L.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

* Ngày 24/6/2024, nguyên đơn - Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã V, kháng cáo với nội dung: Phần tính lãi của khoản vay đối với bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 07/2024/KDTM-ST ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa, phán quyết của Tòa án cấp sơ thẩm về nghĩa vụ trả lãi của bị đơn đối với nguyên đơn không đúng thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 206/HĐTD-QHTPTHTX ký ngày 09/8/2010 giữa Quỹ hỗ trợ phát triển HTX (nay là Quỹ hỗ trợ phát triển V) và Hợp tác xã nhân đạo Tháng năm, gây thiệt hại đến tiền và tài sản của Quỹ tài chính nhà nước hoạt động theo mô hình công ty TNHH một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Căn cứ hợp đồng tín dụng số 206/HĐTD-QHTPTHTX ký ngày 09/8/2010 giữa Quỹ hỗ trợ phát triển HTX (nay là Quỹ hỗ trợ phát triển V) và Hợp tác xã V. Đề nghị cấp phúc thẩm tuyên buộc bị đơn là Hợp tác xã nhân đạo Tháng Năm trả cả gốc và lãi tính đến ngày 13/6/2024 là 6.348.028.000đ (Sáu tỉ ba trăm bốn tám triệu không trăm hai tám nghìn đồng) đồng thời bị đơn phải tiếp tục trả nợ lãi, lãi quá hạn theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 206/ HĐTD-QHTPTHTX ký ngày 09/8/2010 từ ngày 14/6/2024 cho đến khi hoàn thành việc thanh toán.

* Ngày 27/6/2024, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Xuân L và bà Trịnh Thị T kháng cáo với nội dung: Kháng cáo một phần một phần đối với bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 07/2024/KDTM-ST ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa. Đề nghị tuyên hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 208/HĐTC-QHTPTHTX ngày 09/8/2010 vô hiệu và xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

* Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, nguyên đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Xuân L và đại diện theo uỷ quyền của bà Trịnh Thị T không rút đơn kháng cáo.

- Quan điểm của Luật sư bảo vệ cho ông L, bà T: Quỹ hỗ trợ, phát triển V không phải là tổ chức tín dụng, nên HĐ ký kết giữa quỹ và HTX V tháng 5 chỉ là HĐ vay tài sản thông thường chứ không phải là HĐ tín dụng, nên không được tính lãi theo quy định của HĐTD (Hợp đồng tín dụng), nên phải căn cứ Khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2019 Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối Cao: Khi xác định lãi, lãi suất thì không được tính lãi trên nợ lãi chưa trả.

- Ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:

+ Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn phúc thẩm tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Đề nghị HĐXX phúc thẩm áp dụng Khoản 1, Khoản 2 Điều 308 BLTTDS không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Xuân L, bà Trịnh Thị T về nội dung: Đề nghị tuyên hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 208/HĐTC-QHTPTHTX ngày 09/8/2010 vô hiệu và xử lý hợp đồng vô hiệu.

Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Quỹ hỗ trợ phát triển Hợp tác xã V. Sửa Bản án sơ thẩm số 07/2024/KDTM-ST ngày 13/6/2024 của TAND TP Thanh Hóa theo hướng: Buộc bị đơn là Hợp tác xã nhân đạo Tháng Năm trả cả gốc và lãi tính đến ngày 13/6/2024 là 6.348.028.000đ (trong đó nợ gốc: 2.085.000.000 đồng; nợ lãi quá hạn: 4.263.028.000 đồng), bị đơn phải tiếp tục trả nợ lãi, lãi quá hạn theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 206/HĐTD-QHTPTHTX ký ngày 09/8/2010 từ ngày 14/6/2024 cho đến khi hoàn thành việc thanh toán.

Về án phí: Bị đơn được miễn án phí KDTM phúc thẩm do là người cao tuổi theo quy định tại điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Nguyên đơn được trả lại tạm ứng án phí phúc thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, nghe lời trình bày của các đương sự, ý kiến của luật sư và đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn là Quỹ hỗ trợ phát triển Hợp tác xã V và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Xuân L, bà Trịnh Thị T kháng cáo trong thời hạn quy định tại Điều 271, Điều 272, Khoản 1 Điều 273 BLTTDS năm 2015. Ông L, bà T được miễn nộp tạm ứng án phí vì là người cao tuổi. Nguyên đơn đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đúng quy định tại khoản 2 Điều 276 BLTTDS nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Xét các nội dung kháng cáo của đương sự:

[2.1]. Đối với kháng cáo của nguyên đơn là Quỹ hỗ trợ phát triển Hợp tác xã V:

Quỹ hỗ trợ, phát triển V là tổ chức tài chính Nhà nước, nhiệm vụ để hỗ trợ các hoạt động của Hợp tác xã. Do vậy quy chế cho vay của quỹ có tính chất đặc thù đó là: khách hàng là các HTX và cho vay lãi suất ưu đãi, tiền lãi thu được tái bổ sung cho nguồn vốn để hỗ trợ các HTX. Trong quá trình các bên thực hiện hợp đồng phải tuân thủ theo quy định của quy chế cho vay đầu tư của Quỹ hỗ trợ phát triển HTX (Ban hành kèm theo Quyết định số 16/QĐ—HĐQL ngày 10/12/2007 của Hội đồng quản lý Quỹ hỗ trợ phát triển HTX). Nên các Hợp đồng vay được ký kết giữa Quỹ hỗ trợ phát triển HTX và các HTX không phải là HĐ vay tài sản thông thường như quan điểm của người liên quan và người bảo vệ quyền và lợi ích của ông L, bà T trình bày.

Theo Quyết định số 16/QĐ—HĐQL ngày 10/12/2007 của Hội đồng quản lý Quỹ hỗ trợ phát triển HTX và quy chế cho vay đầu tư của Quỹ hỗ trợ phát triển HTX (Ban hành kèm theo Quyết định số 16/QĐ—HĐQL. Tại Khoản 3 Điều 8 quy chế quy định: Về lãi suất cho vay: “3. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn ghi trong HĐTD”

Tại Khoản 2 Điều 21 quy chế quy định: Về chuyển nợ quá hạn: “2. Kể từ thời điểm chuyển nợ quá hạn, toàn bộ số dư nợ (gốc và lãi) phải chịu mức lãi suất quá hạn quy định tại Khoản 3 Điều 8 của quy chế này”

Theo thỏa thuận tại khoản 4 điều 3 của Hợp đồng tín dụng số 206/HĐTD ngày 09/8/2010 giữa Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX và Hợp tác xã V thì lãi suất nợ quá hạn (tính trên nợ gốc và nợ lãi chậm trả) áp dụng bằng 150% lãi suất trong hạn, thỏa thuận này là phù hợp với Quy chế cho vay đầu tư của Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX (ban hành kèm theo Quyết định số 16/QĐ—HĐQL ngày 10 tháng 12 năm 2007 của Hội đồng quản lý Quỹ Hỗ trợ phát triển HTX)

Do đó cấp sơ thẩm không chấp nhận một phần đối với yêu cầu tính lãi quá hạn là chưa phù hợp quy định của pháp luật.

[2.2]. Đối với kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Trịnh Xuân L, bà Trịnh Thị T:

Ông L và bà T cho rằng ông, bà không ký hợp đồng trước mặt công chứng viên, địa điểm ký không phải tại trụ sở phòng công chứng, các trang trước không có chữ ký của ông, khi định giá tài sản đang thế chấp tại ngân hàng là vi phạm điều cấm của Luật nên ông Lương bà T đã đề nghị tuyên hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 208/HĐTC-QHTPTHTX ngày 09/8/2010 vô hiệu và xử lý hợp đồng vô hiệu. Tuy nhiên, lời khai của ông L, bà T trong quá trình giải quyết vụ án và tại các phiên tòa đều thừa nhận ông, bà có ký hợp đồng thế chấp, khi ký có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, bản thân ông Lương bà T tự nguyện ký đơn đăng ký yêu cầu thế chấp, sau đó được nhận và xem xét về nội dung hợp đồng. Theo quy định tại điều 136 BLDS 2005 thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu là hai năm, nhưng năm 2022 ông L bà T mới yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu là không còn thời hiệu.

Mặt khác, theo quy định của BLDS 2015 thì “hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Theo quy định từ điều 122 — 129 BLDS 2015 thì HĐ dân sự bị vô hiệu trong một số trường hợp. Việc ông L và bà T cho rằng ông, bà không ký hợp đồng trước mặt công chứng viên, địa điểm ký không phải tại trụ sở phòng công chứng, các trang trước không có chữ ký của ông, khi định giá tài sản đang thế chấp tại ngân hàng, đây là một số thiếu sót về thủ tục và hình thức của hợp đồng, tuy nhiên ông L, bà T ký HĐ thế chấp là tự nguyện, tiền vay đã được Quỹ hỗ trợ phát triển Hợp tác xã V giải ngân đầy đủ cho HTX Nhân đạo tháng năm. Do đó kể cả còn thời hiệu khởi kiện thì cũng không thuộc các trường hợp phải tuyên vô hiệu theo quy định của pháp luật, nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng thế chấp tài sản số 208 ngày 09/8/2010 như đơn kháng cáo của ông L, bà T.

[3]. Về án phí: Ông L, bà T được miễn án phí KDTM phúc thẩm. Nguyên đơn Quỹ hỗ trợ phát triển Hợp tác xã V không phải chịu án phí KDTM sơ thẩm và phúc thẩm, được trả lại tạm ứng án phí sơ thẩm là 56.214.000đ theo biên lai thu số 0001251 ngày 08/7/2020 và tạm ứng án phí phúc thẩm là 2.000.000đ theo biên lai thu số 0001692 ngày 08/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa. Bị đơn HTX Nhân đạo tháng năm phải chịu án phí KDTM sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1, Khoản 2 Điều 308; Khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 NQ 326/2016/UBTV-QH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Xuân L, bà Trịnh Thị T; Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Quỹ hỗ trợ phát triển Hợp tác xã V. Sửa Bản án sơ thẩm số 07/2024/KDTM-ST ngày 13/6/2024 của TAND TP Thanh Hóa.

  1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 202; Khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 BLTTDS; Điều 51, Điều 52, Điều 54 Luật các tổ chức tín dụng năm 1997; Điều 136; Điều 319; Điều 342; Điều 343; Điều 344; Điều 355 Bộ luật dân sự 2005; Điều 6; khoản 1, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  2. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ hỗ trợ phát triển Hợp tác xã V.
  1. Buộc Hợp tác xã V phải thanh toán cho Quỹ hỗ trợ phát triển Hợp tác xã V khoản tiền vay còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 206/HĐT ký kết ngày 09/8/2010, số nợ gốc và lãi tính đến ngày 13/6/2024 là: 6.348.028.000 đồng (trong đó nợ gốc: 2.085.000.000 đồng; nợ lãi quá hạn: 4.263.028.000 đồng), Hợp tác xã V phải tiếp tục trả nợ lãi, lãi quá hạn theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 206/HĐTD-QHTPTHTX ký ngày 09/8/2010 từ ngày 14/6/2024 cho đến khi hoàn thành việc thanh toán.

Bên phải thi hành án phải tiếp tục chịu khoản lãi kể từ sau ngày 13/6/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) đối với khoản nợ gốc cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc theo mức lãi suất trong hạn bằng 5,76%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn tại hợp đồng tín dụng số 206/HĐTD ký kết ngày 09/8/2010.

  1. Trong trường hợp bên phải thi hành án không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền trên, bên được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp:
    • Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK417292 do UBND tỉnh T cấp ngày 02/11/2007, tại thửa đất số 1560 tờ bản đồ số 06. Tài sản gắn liền trên đất bao gồm: nhà văn phòng + giới thiệu sản phẩm (công trình cấp 4 – 02 tầng) được xây dựng năm 2008, chủ sở hữu là HTX V (đại diện theo pháp luật bà Vũ Thị T1). Hợp đồng thế chấp số 207/HĐTC-QHTPTHTX ngày 09/8/2010.
    • Khi đã xử lý tài sản đảm bảo của Hợp tác xã nhân đạo tháng năm mà không đủ để thanh toán khoản nợ, Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã V có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất (phần diện tích đất còn lại sau khi đã bị thu hồi đất) và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD393692 do UBND thành phố T cấp mang tên ông Trịnh Xuân L và bà Trịnh Thị T tại địa chỉ phố T, phường Q, thành phố T. Hợp đồng thế chấp số 208 ngày 09/8/2010.
    • Trường hợp các tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ, buộc ông Trịnh Xuân L và bà Trịnh Thị T phải trả lại khoản tiền bồi thường khi nhà nước thu hồi đất số tiền 1.192.783.000 đồng cho Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã V.
    • Sau khi đã xử lý các tài sản bảo đảm và khoản tiền thu từ ông L, bà T mà vẫn không đủ thanh toán khoản nợ, thì Hợp tác xã nhân đạo Tháng Năm tiếp tục trả nợ cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
  2. Không chấp nhận yêu cầu tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng thế chấp số 208 ngày 09/8/2010 của ông Trịnh Xuân L.
  1. Về án phí:
    • Ông L, bà T được miễn án phí KDTM phúc thẩm.
    • Nguyên đơn Quỹ hỗ trợ phát triển Hợp tác xã V không phải chịu án phí KDTM sơ thẩm và phúc thẩm, được trả lại tạm ứng án phí sơ thẩm là 56.214.000 đồng theo biên lai thu số 0001251 ngày 08/7/2020 và tạm ứng án phí phúc thẩm là 2.000.000 đồng theo biên lai thu số 0001692 ngày 08/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.
    • Bị đơn HTX Nhân đạo tháng năm phải chịu án phí KDTM sơ thẩm là 114.348.000 đồng.
  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa (P10);
  • - TAND tp Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS tp Thanh Hóa;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/KDTM-PT ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 16/2024/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Quỹ phát triển HTX V tranh chấp HĐTD với HTX nhân đạo tỉnh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger