Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG XƯƠNG

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HS-ST

Ngày: 19 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Lợi

Ông Hà Mạnh Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu, Thư ký Toà án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2025/TLST-HS ngày 07/02/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HS ngày 04/3/2025 đối với bị cáo:

Lê Ngọc C

sinh ngày 06/01/1984; Nơi thường trú: Số nhà E đường N, phường L, TP . T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện tại: Số nhà A đường H, phường Đ, TP ., tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12 ; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân Q (Đã chết); con bà: Mai Thị H; Vợ: Hoàng Thị L, sinh năm 1985; Con: có 3 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2022.

Nhân thân: Bản án số 135 ngày 29/6/2010 của TAND TP Thanh Hóa, xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong thời gian thử thách ngày 18/01/2012, chấp hành xong phần THADS ngày 04/5/2011.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/12/2024, chuyển tạm giam ngày 18/12/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Q – Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt tại phiên toà).

* Bị hại:

  1. Anh Lê Hữu Q1, sinh năm 1969. Địa chỉ: Tổ dân phố T, Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)
  2. Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1988. Địa chỉ: Tổ dân phố A, Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Văn H1, sinh năm 1960. Địa chỉ: Khu phố T, Thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Lê Ngọc C nảy sinh ý định đi tìm nhà dân nào sơ hở thì đột nhập trộm cắp tài sản. Khoảng 02h00' ngày 07/12/2024, C đi bộ mang theo một tua vít 2 cạnh và một chụp mở bugi xe máy đi từ Phường Đ, TP T dọc theo QL1A để tìm nhà dân sơ hở trộm cắp tài sản; đến khoảng 03h00' cùng ngày, khi đi đến Nhà văn hóa phố A, thuộc Tổ dân phố A, TT. T, huyện Q, C quan sát thấy có một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, BKS: 36B2- 630.02 của anh Nguyễn Văn Đ (SN 1988 ở Tổ dân phố A, TT. T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa) đang dựng ở khu vực nhà để xe phía trước nhà văn hóa. Quan sát xung quanh không có ai, C lén lút đi lại dùng tua vít cắm mạnh vào ổ khóa rồi dùng chụp mở bugi lắp bên ngoài tua vít, sau đó vặn mạnh thì mở được khóa xe mô tô trên. Sau khi mở được khóa xe, C nổ máy rồi nhanh chóng điều khiển chiếc xe mô tô này về nhà. Về đến nhà, C mở cốp xe thì thấy có đăng ký xe mô tô ở bên trong cốp. Đến khoảng 13h00' ngày 09/12/2024, C điều khiển chiếc xe mô tô trên đến cửa hàng mua bán xe máy cũ Hùng Cường của anh Hoàng Văn H1 (SN 1960 ở Khu phố T, TT. H, huyện H) để bán. Tại đây, C đưa cho anh H1 đăng ký xe mô tô và nói đây là xe mô tô cũ của C không sử dụng nên bán thì anh H1 đồng ý mua với giá 10.000.000đ. Sau khi bán được xe, C bắt xe bus đi về nhà, số tiền bán xe C sử dụng tiêu sài cá nhân hết. Sau khi bị mất xe anh Đ đã đến Cơ quan Công an trình báo vụ việc để giải quyết.

Đến 14h00' ngày 15/12/2024, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết không thể trốn tránh nên C đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đầu thú, giao nộp một chiếc tua vít 2 cạnh và một chụp mở bugi xe máy mà C sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp và khai báo hành vi phạm tội của mình.

Theo báo cáo của anh Nguyễn Văn Đ, tài sản anh bị mất là 01 xe mô tô Honda Dream, màu nâu BKS: 36B2- 630.02. Bản Kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐĐGTS ngày 17/12/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q kết luận: Tại thời điểm bị mất trộm xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, BKS: 36B2- 630.02 có giá trị 8.000.000 đồng.

Sau khi được Cơ quan điều tra thông báo, anh Hoàng Văn H1 đã tự nguyện giao nộp lại chiếc xe mô tô BKS: 36B2- 630.02 đã mua của C để phục vụ điều tra. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Văn Đ là phù hợp.

Đối với hành vi của anh Hoàng Văn H1 mua lại chiếc xe mô tô mà Lê Ngọc C trộm cắp, do quá trình mua bán xe, C nói với anh H1 đây là xe mô tô của C không sử dụng nên bán, đồng thời C đưa cho anh H1 đăng ký của xe mô tô trên. Do đó, anh H1 không biết đây là xe mô tô mà C trộm cắp. Vì vậy, hành vi này của anh H1 không phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 BLHS.

Đối với số tiền 10.000.000đ mà Lê Ngọc C bán chiếc xe mô tô BKS: 36B2- 630.02 cho anh Hoàng Văn H1, gia đình Lê Ngọc C đã trả lại cho anh H1, anh H1 đã nhận và không có đề nghị gì thêm.

Đối với 01 tua vít 2 cạnh dài 13cm, phần tay cầm bằng nhựa màu đen dài 8cm, phần đầu bằng kim loại dài 5cm, đã qua sử dụng và 01 chụp mở bugi xe máy, bằng kim loại, dài khoảng 10cm, đã qua sử dụng, là công cụ thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Quá trình điều tra mở rộng vụ án, Lê Ngọc C đã tự thú về hành vi trộm cắp tài sản khác của mình vào khoảng tháng 2/2023 tại Tổ dân phố T, TT. T, huyện Q. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh, đủ cơ sở xác định Lê Ngọc C còn 01 lần nữa thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể:

Khoảng 02h00' ngày 03/2/2023, C đi bộ từ Phường Đ, TP T theo QL1A để tìm tài sản trộm cắp; đến khoảng 02h30' cùng ngày, khi đi đến khu vực Chợ L1 thuộc Tổ dân phố T, TT. T, huyện Q, C quan sát thấy có một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu B, BKS: 36G1-314.84 của anh Lê Hữu Q1 (SN 1969 ở Tổ dân phố T, TT. T, TT. T, huyện Q) đang dựng ở rìa đường phía Đông QL1A, chìa khóa đang cắm ở ổ khóa. Quan sát xung quanh không có ai, C lén lút đi lại mở chìa khóa, nổ máy xe rồi nhanh chóng điều khiển xe đi theo QL1A về nhà. Khi đi đến đoạn đường vắng, C dừng xe lại dùng tay bẻ biển kiểm soát của xe vứt ở rìa đường rồi điều khiển xe về nhà. Do xe không có đăng ký và biển kiểm soát nên C không bán được; vì vậy, C để xe ở nhà sử dụng làm phương tiện đi lại cho đến nay. Sau khi sự việc xảy ra anh Q1 bận đi làm ăn xa nên không trình báo vụ việc với Cơ quan Công an.

Theo báo cáo của anh Lê Hữu Q1, tài sản anh bị mất là 01 xe mô tô Yamaha Exciter, màu B, BKS: 36G1-314.84, ông mua lại từ năm 2022. Bản Kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐGTS ngày 17/12/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q kết luận: Tại thời điểm bị mất trộm xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu B, BKS: 36G1-314.84 có giá trị 15.000.000₫.

Cơ quan điều tra đã thu giữ lại được chiếc xe mô tô BKS: 36G1-314.84 mà C để tại nhà làm phương tiện đi lại và trả lại chiếc xe cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Lê Hữu Q1 là phù hợp. Anh Q1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Lê Ngọc C đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác của vụ án.

Tại cáo trạng số 15/CT-VKSQX ngày 06/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá truy tố bị cáo Lê Ngọc C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS. Xử phạt Lê Ngọc C từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Hoàng Văn H1 đã nhận lại số tiền 10.000.000₫ của bị cáo trả lại tiền đã bán xe; các bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì khác nên không xem xét.

Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 tua vít 2 cạnh dài 13cm, phần tay cầm bằng nhựa màu đen dài 8cm, phần đầu bằng kim loại dài 5cm, đã qua sử dụng và 01 chụp mở bugi xe máy, bằng kim loại, dài khoảng 10cm.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tự bào chữa và tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa vắng mặt bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng những người này đều đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.

[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét về hành vi của bị cáo thấy rằng: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo thống nhất với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án. Bị cáo khai nhận: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản là:

- Vụ thứ 1: Khoảng 02h00' ngày 03/2/2023, tại Tổ dân phố T, Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, Lê Ngọc C đã lén lút trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 135, màu B, BKS: 36G1-314.84 của anh Lê Hữu Q1 (SN 1969 ở Tổ dân phố T, Thị trấn T, huyện Q), trị giá 15.000.000 đồng.

- Vụ thứ 2: Khoảng 02h00' ngày 07/12/2024, tại Tổ dân phố A, Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa: Lê Ngọc C đã lén lút trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, BKS: 36B2- 630.02 của anh Nguyễn Văn Đ (SN 1988 ở Tổ dân phố A, Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa) trị giá 8.000.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản Lê Ngọc C trộm cắp 2 lần là 23.000.000 đồng.

Tại phiên toà hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát luận tội và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Ngọc C có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Với mục đích để có tiền chi tiêu cá nhân mà không phải bỏ sức lao động, lợi dụng sự sơ hở, thiếu cảnh giác trong việc quản lý tài sản, bị cáo C đã lén lút chiếm đoạt tài sản của gia đình anh Lê Hữu Q1 và anh Nguyễn Văn Đ một cách trái pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo gây mất trật tự trị an trong xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân. Do đó, cần được đưa ra xử lý nghiêm minh theo pháp luật hình sự và xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội hai lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội đã đến cơ quan Công an đầu thú và tự thú ra hành vi phạm tội trước của mình, bị cáo có bố mẹ tham gia dân công hoả tuyến; có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, r khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo thành công dân tốt.

Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, lẽ ra bị cáo phải biết ăn năn hối cải về việc làm sai trái của mình để sửa đổi trở thành người tốt có ích cho xã hội, nhưng bị cáo lại tiếp tục phạm tội nên khi lượng hình cần có mức án nghiêm minh theo pháp luật hình sự và xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

[6.1] Theo báo cáo của anh Nguyễn Văn Đ, tài sản anh bị mất là 01 xe mô tô Honda Dream, màu nâu BKS: 36B2- 630.02. Bản Kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐĐGTS ngày 17/12/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q kết luận: Tại thời điểm bị mất trộm xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, BKS: 36B2- 630.02 có giá trị 8.000.000 đồng. Sau khi được Cơ quan điều tra thông báo, anh Hoàng Văn H1 đã tự nguyện giao nộp lại chiếc xe mô tô BKS: 36B2- 630.02 đã mua của C để phục vụ điều tra. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Văn Đ. Anh Nguyễn Văn Đ đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6.2] Anh Hoàng Văn H1 đã nhận số tiền 10.000.000 đồng là tiền mà bị cáo đã bán chiếc xe máy cho anh và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6.3] Theo báo cáo của anh Lê Hữu Q1, tài sản anh bị mất là 01 xe mô tô Yamaha Exciter, màu B, BKS: 36G1-314.84, anh mua lại từ năm 2022. Bản Kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐGTS ngày 17/12/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q kết luận: Tại thời điểm bị mất trộm xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu B, BKS: 36G1-314.84 có giá trị 15.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu giữ lại được chiếc xe mô tô BKS: 36G1-314.84 mà C để tại nhà làm phương tiện đi lại và trả lại chiếc xe cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Lê Hữu Q1 là phù hợp. Anh Q1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về vật chứng: Đối với vật chứng là 01 tua vít 2 cạnh dài 13cm, phần tay cầm bằng nhựa màu đen dài 8cm, phần đầu bằng kim loại dài 5cm, đã qua sử dụng và 01 chụp mở bugi xe máy, bằng kim loại, dài khoảng 10cm, đã qua sử dụng, là công cụ thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Các vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Thanh Hóa và Chi cục thi hành án huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá.

[8] Các tình tiết khác của vụ án:

[8.1] Đối với hành vi của anh Hoàng Văn H1 mua lại chiếc xe mô tô mà Lê Ngọc C trộm cắp, do quá trình mua bán xe, C nói với anh H1 đây là xe mô tô của C không sử dụng nên bán, đồng thời C đưa cho anh H1 đăng ký của xe mô tô trên. Do đó, anh H1 không biết đây là xe mô tô mà C trộm cắp. Vì vậy, hành vi này của anh H1 không phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 BLHS.

[8.2] Đối với chị Hoàng Thị L là vợ ở cùng nhà với bị cáo Lê Ngọc C, sau khi trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu bạc xanh, BKS: 36G1-314.84 của anh Lê Hữu Q1 vào ngày 03/2/2023, C bẻ biển kiểm soát xe rồi mang về nhà nói với chị L là xe cũ do C mua lại nên không có biển kiểm soát và đăng ký xe; sau đó, C để chiếc xe này ở nhà làm phương tiện đi lại; chị L không biết đây là xe mô tô mà C trộm cắp. Vì vậy, chị L không phạm vào tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 BLHS.

[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s, r khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc C phạm tội: "Trộm cắp tài sản".

Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc C 12 (Mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/12/2024.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại là anh Lê Hữu Q1 và anh Nguyễn Văn Đ đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh Hoàng Văn H1 đã nhận lại số tiền 10.000.000 đồng là tiền mà bị cáo đã bán chiếc xe máy cho anh và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 tua vít 2 cạnh dài 13cm, phần tay cầm bằng nhựa màu đen dài 8cm, phần đầu bằng kim loại dài 5cm, đã qua sử dụng và 01 chụp mở bugi xe máy, bằng kim loại, dài khoảng 10cm, đã qua sử dụng, là công cụ thực hiện hành vi phạm tội.

Các vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Thanh Hóa và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Mục 1 phần I, Điểm b Tiểu mục 1.3 Mục 1 phần II Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND huyện Quảng Xương;
  • - Chi cục THADS huyện Quảng Xương;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ĐÃ KÝ)

Trần Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HOÁ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 16/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Ngọc C phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger