Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN Q.HẢI CHÂU

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/KDTM-ST

Ngày: 19.6.2025

V/v “Tranh chấp

hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Hữu
  • - Các Hội thẩm nhân dân. Bà Nguyễn Thị Cúc Ông Huỳnh Thanh Trà
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lành - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ly Na – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 95/2024/TLST-KDTM ngày 14 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2025/QĐXXST-KDTM ngày 05 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 95/2025/QĐ-KDTM ngày 30 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K. Trụ sở chính: 4 P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M. Chức danh: Tổng Giám đốc.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trung V. Chức danh: Phó Tổng giám đốc (Văn bản ủy quyền số 3366/2024/QĐ-NHKL ngày 21.8.2023 của Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP K). Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T, chức vụ: Chuyên viên Xử lý nợ Thẻ và Tài chính vi mô – Phòng xử lý nợ (Quyết định ủy quyền số 390/QĐ-NHKL ngày 30.01.2024), bà Nguyễn Thị Tuyết S, chức vụ: chuyên viên xử lý nợ (giấy ủy quyền 117A/QĐ-NHKL ngày 17.01.2025) Địa chỉ liên hệ: 158-160 N, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng. Bà S có mặt.
  • - Bị đơn: Công ty TNHH T1, Địa chỉ: K T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.
  • Người đại diện: Ông Đào Ngọc L, sinh năm 1969. Chúc vụ: Chủ tịch HĐTV kiêm Tổng Giám đốc. Địa chỉ thường trú: Tổ E phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng. Địa chỉ liên lạc: F D, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản giải trình ngày 24.10.2024 và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

- Ngày 22/12/2012, Ngân hàng TMCP K – Chi nhánh Đ - P (nay là P1) ký Hợp đồng tín dụng số DB 0510/HĐTD cho Công ty TNHH T1 vay 300.000.000 đồng, mục đích bổ sung vốn kinh doanh, thời hạn 13 tháng, giải ngân ngày 24/12/2012. Lãi suất trong hạn là 18,6%/năm, điều chỉnh 6 tháng/lần, theo lãi suất tiền gửi kỳ hạn 13 tháng cộng biên độ 0,65%/tháng. Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển quá hạn. Trả gốc cuối kỳ vào ngày 25/01/2014. Lãi tiền vay được trả: vào ngày 24 hàng tháng. Các bên thỏa thuận nếu bên vay không trả lãi tiền vay đầy đủ và đúng hạn, Ngân hàng TMCP K sẽ thu thêm số tiền phạt chậm trả bằng 0,1%/ngày trên số tiền lãi chậm trả và số ngày chậm trả.

Tài sản bảo đảm cho Hợp đồng tín dụng số DB 0510/HĐTD ngày 22/12/2012 là Xe ô tô 29 chỗ, nhãn hiệu: TRANSINCO, màu sơn: Trắng, biển kiểm soát: 43B-010.45, số khung: RLP2FMH4T8A002151, số máy: D4DB7341661 thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH T1 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 010004 do Phòng C C1 cấp ngày 18/12/2012 theo Hợp đồng thế chấp số 510/HĐTC ngày 22/12/2012 đã được chứng thực tại Phòng C2 ngày 22/12/2012 và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại thành phố Đà Nẵng ngày 22/12/2012.

Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty TNHH T1 đã thanh toán cho Ngân hàng được tổng số tiền là 10.518.145 đồng (Mười triệu năm trăm mười tám ngàn một trăm bốn mươi lăm đồng). Đến kỳ thanh toán từ ngày 22.02.2013- đến 21.3.2013 bị đơn không tiếp tục thanh toán tiền lãi nên đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo như thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký.

Hiện nay, Công ty TNHH T1 không còn ở địa phương, tài sản bảo đảm cho khoản vay là xe ô tô hiện không biết ở đâu. Ngân hàng đã dùng mọi biện pháp liên hệ yêu cầu bàn giao xe ô tô bằng văn bản số 958/TB-NHKL ngày 28/03/2023 "Thông báo về việc tự nguyện bàn giao tài sản" nhưng Công ty TNHH T1 vẫn không thực hiện và cố tình lẩn tránh Ngân hàng tiếp cận làm việc.

Tại phiên tòa hôm nay ngân hàng yêu cầu tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH T1 thanh toán cho Ngân hàng TMCP K tổng số tiền tạm tính đến ngày 19.6.2025 là 1.318.195.000 đồng trong đó nợ gốc: 300.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 56.575.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 961.620.000 đồng. Ngân hàng rút yêu cầu khởi kiện đối với tiền phạt chậm trả lãi: 4.894.800 đồng. Không yêu cầu xử lý tài sản thế chấp.

Buộc Công ty TNHH T1 thanh toán toàn bộ số tiền trên và tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 20/6/2025 cho đến khi tất toán xong theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần đối với Công ty TNHH T1, Vận tải và Du lịch Hoàng D theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, tuy nhiên Công ty TNHH T1 vẫn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự trong vụ án đã được đảm bảo thực hiện đúng, đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn vắng mặt tại Tòa án trong các phiên họp kiểm tra, giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và không có văn bản trình bày ý kiến là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện đã rút của nguyên đơn, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán 1.318.195.000 đồng trong đó bao gồm nợ gốc: 300.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 56.575.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 961.620.000 đồng cho Ngân hàng TMCP K. Bị đơn tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, phát biểu quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP K (viết tắt là nguyên đơn) khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với Công ty TNHH T1 (viết tắt là bị đơn), bị đơn có địa chỉ kinh doanh tại quận H, thành phố Đà Nẵng nên căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự:

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tại phiên tòa mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.3] Về áp dụng pháp luật: Tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng, Bộ luật dân sự năm 2005 đang có hiệu lực thi hành. Do giao dịch dân sự của các bên đương sự được thực hiện xong trước ngày Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực mà có tranh chấp nên Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật dân sự năm 2005 để giải quyết vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Theo tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thì ngày 22/12/2012, nguyên đơn ký Hợp đồng tín dụng số DB 0510/HĐTD cho bị đơn vay 300.000.000 đồng để bị đơn bổ sung vốn kinh doanh. Hợp đồng có thời hạn 13 tháng. Lãi suất trong hạn là 18,6%/năm, điều chỉnh 6 tháng/lần, theo lãi suất tiền gửi kỳ hạn 13 tháng cộng biên độ 0,65%/tháng. Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển quá hạn. Tiền lãi trả vào ngày 24 hàng tháng, đến hạn trả gốc ngày 24/01/2014. Trên cơ sở giấy đề nghị giải ngân của bị đơn, ngày 24.12.2012 ngân hàng giải ngân cho bị đơn vay số tiền 300.000.000 đồng thông qua tài khoản số [...] tại Ngân hàng TMCP K Chi nhánh Đ - Phòng G nay là phòng G1. Toàn bộ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng tín dụng nêu trên được bảo đảm bằng tài sản là 01 xe ô tô khách biển số 43B-010.45 thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH T1 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 010004 do Phòng C C1 cấp ngày 18/12/2012 theo Hợp đồng thế chấp số 510/HĐTC ngày 22/12/2012.

Trong quá trình sử dụng vốn vay, đến kỳ thanh toán tiền lãi từ ngày 22.02.2013 đến 21.3.2013 bị đơn không tiếp tục thanh toán tiền lãi nên Ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn đối với bị đơn. Đến hạn trả gốc ngày 24/01/2014 mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ và làm việc với bị đơn để yêu cầu hoàn trả nợ vay nhưng bị đơn cố tình kéo dài thời gian nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

[2.2] Xét thấy, Hợp đồng tín dụng giữa hai bên được giao kết hợp pháp, tự nguyện, phù hợp quy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự 2005. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi theo Điều 474 Bộ luật dân sự 2005. Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn không có văn bản gì thể hiện ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn đã vi phạm các điều khoản tại Hợp đồng tín dụng đã ký, vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn tổng số nợ gốc và lãi tạm tính đến hết ngày 19.6.2025 là 1.318.195.000 đồng, trong đó nợ gốc là 300.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 56.575.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 961.620.000 đồng. Ngoài ra, bị đơn còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 20/6/2025 theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi tất toán xong cho ngân hàng là có căn cứ.

[3] Nguyên đơn không yêu cầu xử lý tài sản thế chấp đối với xe ô tô biển số 43B-010.45 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Tại phiên tòa nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với tiền phạt chậm trả lãi: 4.894.800 đồng nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phần yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn theo quy định tại Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.

[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 244 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 471, Điều 474 Bộ luật dân sự 2005;

Căn cứ Điều 91 luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ xét xử phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K đối với bị đơn Công ty TNHH T1 về yêu cầu trả tiền phạt chậm trả lãi: 4.894.800 đồng.
  2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K đối với bị đơn Công ty TNHH T1 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
  3. Buộc Công ty TNHH T1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP K số tiền: 1.318.195.000 (Một tỷ, ba trăm mười tám triệu, một trăm chín mươi lăm nghìn) đồng trong đó nợ gốc 300.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 56.575.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 961.620.000 đồng.
  4. Kể từ ngày 20/6/2025, Công ty TNHH T1 còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh trên số tiền chưa thanh toán theo mức lãi thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng Hợp đồng tín dụng số DB 0510/HĐTD ngày 22.12.2012 cho đến khi tất toán các khoản nợ cho Ngân hàng TMCP K.
  5. Về án phí: Công ty TNHH T1 phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là: 51.545.850 (Năm mươi mốt triệu, năm trăm bốn mươi lăm nghìn, tám trăm năm mươi) đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền tạm ứng án phí 23.973.560 đồng theo biên lai số 0004702 ngày 05/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
  6. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Hải Châu;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THA DS quận Hải Châu;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Hữu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/KDTM-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 16/2025/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Đình chỉ xét xử phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K đối với bị đơn Công ty TNHH T1 về yêu cầu trả tiền phạt chậm trả lãi: 4.894.800 đồng. 2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K đối với bị đơn Công ty TNHH T1 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. 3. Buộc Công ty TNHH T1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP K số tiền: 1.318.195.000 (Một tỷ, ba trăm mười tám triệu, một trăm chín mươi lăm nghìn) đồng trong đó nợ gốc 300.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 56.575.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 961.620.000 đồng. Công ty TNHH T1 phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là: 51.545.850 (Năm mươi mốt triệu, năm trăm bốn mươi lăm nghìn, tám trăm năm mươi) đồng. Quyền kháng cáo theo qui định
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger