Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HSST

Ngày: 28 - 10 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn,

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hành và ông Văn Anh Trình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Ngọc Anh, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Diện, Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 10 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Toà án nhân dân khu vực 4 - Quảng Trị và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Q. Tòa án nhân dân khu vực 4 - Quảng Trị, xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXX-ST, ngày 16 tháng 10 năm 2025, đối với:

Bị cáo: Nguyễn Văn H, sinh ngày 26 tháng 01 năm 2007; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố T, xã L, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Q và bà Đinh Thị N; tiền án: tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04 tháng 6 năm 2025, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Võ Thị K, sinh năm 2002; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: TDP X, xã L, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt;
  2. Anh Lê Quang D, sinh năm 2000; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt;
  3. Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1958; nghề nghiệp: Làm ruộng; địa chỉ: TDP T, xã L, tỉnh Quảng Trị, có mặt;
  4. Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1982; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: TDP T, xã L, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19 giờ 45 phút ngày 03/6/2025, Tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Q (nay Công an tỉnh Q) phối hợp với Công an thị trấn K, huyện L, tỉnh Quảng Bình (nay là Công an xã L, tỉnh Quảng Trị) tiến hành tuần tra kiểm soát trên địa bàn. Khi đến Tổ dân phố P, thị trấn K, huyện L, tỉnh Quảng Bình (nay TDP P, xã L, tỉnh Quảng Trị) thấy Nguyễn Văn H có dấu hiệu nghi vấn, tiến hành kiểm tra phát hiện thu giữ tại Hoàng 10 viên ma túy, H khai nhận đó là ma túy loại hồng phiến, H đang trên đường đi bán cho Võ Thị K ở TDP P, xã L, tỉnh Quảng Trị với số tiền 500.000 đồng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ người cùng tang vật.

Khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q (nay Công an tỉnh Q) tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của H tại TDP T, thị trấn K, huyện L, tỉnh Quảng Bình (nay TDP T, xã L, tỉnh Quảng Trị) phát hiện thu giữ 01 túi đeo màu đen có kích thước (32x25x10)cm, mặt trước có chữ QQ88, bên trong có 01 túi nilon màu hồng, bên ngoài ghi chữ A, bên trong chứa tổng cộng 123 viên nén hình tròn (trong đó có 120 viên nén màu hồng, 03 viên nén màu xanh), H khai nhận đó là ma túy của H mua về nhằm mục đích bán kiếm lời.

Quá trình điều tra xác định được, Nguyễn Văn H đã bán ma túy cho các đối tượng sau:

Lần thứ nhất: Trưa ngày 03/6/2025, tại nhà H ở TDP T, TT K, huyện L, tỉnh Quảng Bình (nay TDP T, xã L, tỉnh Quảng Trị) H bán 12 viên ma túy dạng hồng phiến cho Võ Thị K ở TDP X, TT K, huyện L, tỉnh Quảng Bình (nay TDP X, xã L, tỉnh Quảng Trị) với số tiền 500.000 đồng.

Lần thứ hai: Chiều 03/6/2025, tại cổng làng thôn T, xã D, huyện L, tỉnh Quảng Bình nay là (Thôn T, xã T, tỉnh Quảng Trị) Hoàng bán 06 viên ma túy dạng hồng phiến cho Lê Quang D ở T, xã D, huyện L, tỉnh Quảng Bình nay là (Thôn T, xã T, tỉnh Quảng Trị) với số tiền 300.000 đồng.

Quá trình bắt quả tang và khám xét, Cơ quan điều tra tạm giữ: 10 viên nén màu hồng, 120 viên nén màu hồng, 03 viên nén màu xanh và toàn bộ vỏ bao gói; 01 túi đeo màu đen có kích thước 32x15x10cm, mặt trước có chữ QQ88; 01 túi nilon màu hồng bên ngoài ghi chữ A kích thước 9x6,5cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 12Pro màu xanh than, bên trong có số điện thoại 0384.596.xxx.

Tại bản kết luận giám định số 804/KL-KTHS, ngày 11/6/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: 10 (mười) viên nén hình tròn, màu hồng trên mỗi mặt viên có in chữ WY; mẫu ký hiệu A1 là chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,898g. 120 viên nén hình tròn, màu hồng, trên mỗi mặt viên có in chữ WY; mẫu ký hiệu A2 là chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 10,488g. Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. 03 viên nén hình tròn màu xanh, trên mỗi mặt viên có in chữ WY; mẫu ký hiệu A3 không phải là chất ma túy, khối lượng 0,262g.

Tại bản kết luận giám định số 867/KL-KTHS, ngày 06/8/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: Trích xuất được dữ liệu cuộc gọi đi, đến, tin nhắn đi, đến, nội dung tin nhắn trên ứng dụng Messenger được lưu trong mẫu cần giám định ký

hiệu A. Dữ liệu trích xuất được nén thành 01 file có tên DuLieuTrichXuatVn867.zip, dung lượng: 1.07GB, mã MD5;A15B8A1838FJCDBC8F9D18A3A76D9237 và được lưu vào 01 đĩa DVC nhãn hiệu Maxell, loại dung lượng 4.7GB. Những số điện thoại đã sử dụng trong mẫu cần giám định ký hiệu A bao gồm: +84384596132; +84339688349; và +84388413891. Quá trình mở dữ liệu trích xuất, phát hiện nội dung tin nhắn trên ứng dụng Messenger có những nội dung liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn H.

Tại Bản cáo trạng số 07/CT-VKSNDKV4 ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Quảng Trị truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, đúng như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Quảng Trị đã truy tố.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Quảng Trị giữ quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật phát biểu quan điểm, luận tội chứng minh bị cáo Nguyễn Văn H đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy loại Methamphetamin cho Võ Thị K 10 viên khối lượng 0,898g, tàng trữ tại nhà ở 120 viên nén màu hồng khối lượng 10,488 gam, ngoài ra bị cáo còn bán hai lần ma túy cho người khác. Cáo trạng truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn H từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù; áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy vật chứng 0,77gam ma túy loại Methamphetamin còn lại sau khi giám định của mẫu ký hiệu A1, 10,269 gam ma túy loại Methamphetamin còn lại sau khi giám định của mẫu ký hiệu A2, 0,117 gam còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A3 và toàn bộ võ bao gói đã được niêm phong trong phong bì số “804/KL-KTHS”; 01 túi nilon màu hồng bên ngoài ghi chữ A kích thước 9x6,5cm. Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 túi đeo màu đen có kích thước 32x15x10cm, mặt trước có chữ QQ88; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 12Pro màu xanh than, bên trong có số điện thoại 0384.596.xxx. Buộc bị cáo nộp lại số tiền 800.000 đồng thu lợi bất chính do bán ma túy để sung công quỹ nhà nước.

Bị cáo Nguyễn Văn H nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời luận tội của Kiểm sát viên, hối hận về hành vi phạm tội của mình, tỏ thái độ ăn năn hối cải, quyết tâm từ bỏ mua bán ma túy, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật; xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, sớm trở về hòa nhập cộng đồng, làm công dân lương thiện, có điều kiện chăm lo, giúp đỡ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Quảng Trị, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng

Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị K và anh Lê Quang D; bị cáo, Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng khác đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị K và anh Lê Quang D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, đã có lời khai tại hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo đúng quy định.

[3]. Về tội danh: Lời khai của bị cáo thống nhất, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; phù hợp về thời gian, địa điểm và quá trình diễn biến của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Vào lúc 19 giờ 45 phút ngày 03/6/2025, Nguyễn Văn H đang trên đường đi bán cho Võ Thị K 10 viên nén màu hồng có khối lượng 0,898gam là ma túy loại Methamphetamine; khám xét tại nhà thu giữ 120 viên nén màu hồng có khối lượng 10,488 gam là ma túy loại Methamphetamine; mục đích bán để kiếm lời. Ngoài ra, trong ngày 03 tháng 6 năm 2025, bị cáo đã bán ma túy cho Võ Thị K 12 viên, Lê Quang D 06 viên. Như vậy, hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo Nguyễn Văn H thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

[4]. Xét tính chất nguy hiểm, mức độ, hậu quả của hành vi và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo thực hiện hành vi mua bán ma túy với lỗi cố ý, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, gây lo lắng, hoang mang cho nhân dân trước tình hình an ninh trật tự trên địa bàn diễn biến phức tạp. Bị cáo là những người có sức khỏe, đủ nhận thức, biết ma túy là loại chất gây nghiện có nguy cơ gây hại rất lớn cho xã hội, Nhà nước cấm sử dụng, nhưng bị cáo cố tình bán để kiếm lời. Do đó, cần phải nghiêm khắc xử lý trách nhiệm hình sự, tương ứng với tính chất vụ án, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Quảng Trị và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo về tội danh, khung hình phạt như trên là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

[5]. Về các hành vi khác liên quan trong vụ án: Trong vụ án này, Nguyễn Văn H khai nhận mua ma túy của một người đàn ông không rõ nhân tính, lai lịch tại đường H, thuộc địa phận xã P, huyện L, tỉnh Quảng Bình nay là xã T, tỉnh Quảng Trị. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không có căn cứ xử lý.

Đối với Võ Thị K và Lê Quang D khai mua ma túy của Nguyễn Văn H để sử dụng. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q chuyển hồ sơ đề nghị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Q xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Nguyễn Văn H khai nhận nhiều lần bán ma túy cho người thanh niên tên T ở xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình nay là xã T, tỉnh Quảng Trị và thanh niên tên Q1, sinh năm 2009 ở xã L, huyện L, tỉnh Quảng Trị nay là xã L, tỉnh Quảng Trị. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không đủ căn cứ để kết luận về các lần bán ma túy này của H.

Đối với anh Nguyễn Văn Q (bố đẻ) và bà Hoàng Thị L (bà nội) của bị cáo khi cơ quan điều tra khám xét, thu giữ ma túy tại nhà của bà L; bà L, anh Q không biết bị cáo tàng trữ ma túy để bán nên không có căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự.

[6]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bố mẹ bị cáo ly hôn khi bị cáo đang còn nhỏ, phải ở với bà nội nên thiếu sự chăm sóc, quản lý của bố mẹ. Mặt khác, bị cáo mới bước sang tuổi trưởng thành nên nhận thức còn hạn chế, Hội đồng xét xử cần cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Tuy nhiên, cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo, sớm trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[7]. Về xử lý số tiền bán ma túy: Trong ngày 03/6/2025, bị cáo Nguyễn Văn H bán 12 viên ma túy cho Võ Thị Kiều T1 500.000 đồng, bán 06 viên ma túy cho Lê Quang D thu 300.000 đồng; đây là số tiền thu lợi bất chính cần buộc bị cáo nộp để sung công quỹ nhà nước là phù hợp với điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[8]. Về vật chứng vụ án: Khối lượng chất ma túy thu giữ trong vụ án sau khi đã giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành; 0,172g không phải ma túy, toàn bộ võ bao gói đã được niêm phong trong phong bì số “804/KL-KTHS”; 01 túi nilon màu hồng bên ngoài ghi chữ A kích thước 9x6,5cm không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 12Pro màu xanh than, bên trong có số điện thoại 0384.596.xxx bị cáo sử dụng để liên lạc với các đối tượng mua ma túy; 01 túi đeo màu đen có kích thước 32x15x10cm, mặt trước có chữ QQ88 cần tịch thu sung công quỹ nhà nước là hoàn toàn phù hợp điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[9]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 260; khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1, 4 Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

  1. Về tội danh và hình phạt:

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

    Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 04 tháng 6 năm 2025). Tuyên bố tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

  2. Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    Xử tịch thu tiêu hủy vật chứng là 0,77 gam ma túy loại Methamphetamin còn lại sau khi giám định của mẫu ký hiệu A1; 10,269 gam ma túy loại Methamphetamin còn lại sau khi giám định của mẫu ký hiệu A2; 0,172 gam còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A3 và toàn bộ võ bao gói đã được niêm phong trong phong bì số “804/KL-KTHS”; 01 túi nilon màu hồng bên ngoài ghi chữ A kích thước 9x6,5cm.

    Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 túi đeo màu đen có kích thước 32x15x10cm, mặt trước có chữ QQ88, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12Pro màu xanh than, bên trong có số điện thoại 0384.596.xxx được niêm phong trong 01 phong bì mặt trước ghi nội dung “867/KL-KTHS”.

    Tất cả vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Quảng Trị ngày 17/10/2025.

  3. Về xử lý tiền thu lợi: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Buộc bị cáo Nguyễn Văn H nộp lại số tiền 800.000 đồng thu lợi bất chính do bán ma túy để sung công quỹ nhà nước.
  4. Án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND KV4 - Quảng Trị;
  • - Phòng THA khu vực 4;
  • - Công an tỉnh Quảng Trị;
  • - Những người TGTT khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HSST ngày 28/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - QUẢNG TRỊ về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 16/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án xét xử Nguyễn Văn H về tội: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger