TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM Bản án số: 16/2025/HSST Ngày 21 - 02 - 2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tươi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Quốc Phòng, bà Lê Thị Huấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Vy - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: Ông Nghiêm Văn Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 08/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 12/2025/QĐXXST - HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với:
- Bị cáo: Phạm Văn C, tên gọi khác: Không; sinh năm 1992, nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện P, thành phố Hà Nội; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Phạm Văn T (đã chết) và bà Vũ Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 10/05/2012 Ủy ban nhân dân huyện P, thành phố Hà Nội ra quyết định về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc, thời hạn: 24 tháng, chấp hành xong ngày 09/08/2014. Tạm giữ: Từ ngày 27/09/2024 đến ngày 06/10/2024 chuyển sang tạm giam. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.
- Bị hại:
- Anh Phan Mạnh H, sinh năm 1982, nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường D, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Đình K, sinh năm 1994, nơi cư trú: Thôn C, xã D, huyện T, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Trần Văn Q, sinh năm 1994, nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Anh Đặng Văn Q1, sinh năm 1977, nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện P, thành phố Hà Nội; có mặt.
- Anh Đỗ Tuấn Đ, sinh năm 1987, nơi cư trú: Tiểu khu P, thị trấn P, huyện P, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1
Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 26/9/2024, Phạm Văn C sinh năm 1992 trú tại thôn T, xã T, huyện P, thành phố Hà Nội một mình điều khiển xe mô tô Honda Wave màu trắng đen, đeo BKS 29MĐ4 - 014.04 từ phòng trọ của C tại phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam đến khu vực nhà anh Phan Mạnh H, sinh năm 1982, ở tổ dân phố N, phường D, thị xã D, phát hiện thấy nhà anh H mở cửa, C ngó vào nhà không thấy ai nên đã lén lút đi vào phòng ngủ trộm cắp của gia đình anh H 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus màu hồng và một chiếc máy tính xách tay hiệu Macbook Air M1 2020, màu xám để ở trên giường phòng ngủ. Sau đó C mang chiếc máy tính cất giấu vào một bụi cây sau tường rào tòa nhà Tuấn B ở tổ dân phố N, phường Đ, thị xã D, còn chiếc điện thoại C giấu vào một bụi cây cổng công ty TNR thuộc khu công nghiệp Đ II rồi đi về phòng trọ. Đến ngày 27/9/2024, do nhận thức được hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật nên C đã đến Công an phường D đầu thú và giao nộp lại toàn bộ số tài sản đã trộm cắp.
Vật chứng, tài sản thu giữ, tạm giữ: 01 xe mô tô Honda Wave, màu trắng đen, không có gương chiếu hậu, mang BKS 29MĐ4 - 014.04 đã qua sử dụng; 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Macbook Air M1 2020, màu xám đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 plus màu hồng đã qua sử dụng; 01 chiếc biển kiểm soát 33N3 - 2676.
Cơ quan CSĐT Công an thị xã D đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Văn C ở tổ dân phố V, phường Đ, thị xã D, tỉnh Hà Nam nhưng không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Mở rộng điều tra vụ án Cơ quan CSĐT Công an thị xã D đã xác định được: Ngày 14/9/2024 tại thôn C, xã D, huyện T, thành phố Hà Nội, lợi dụng sự sơ hở của chủ quản lý tài sản, Phạm Văn C đã lén lút vào trong sân nhà xưởng của anh Nguyễn Đình K mở khoá xe trộm chiếc xe mô tô Honda Wave 100, màu trắng đen, BKS: 33N3 - 2676. Để tránh bị phát hiện nên C đã lấy biển số xe máy điện 29MĐ4 - 014.04 mà C nhặt được lắp vào xe mô tô Honda Wave và sử dụng, làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội như nêu trên.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 62/KL ngày 30/09/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã D, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7plus, bộ nhớ trong 128GB trị giá: 2.500.000 đồng; 01 chiếc máy tính xách tay hiệu M, bộ nhớ trong 256GB có giá trị 12.000.000 đồng. Tổng trị giá: 14.500.000 đồng.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 74/KL – HĐ ngày 25/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã D, kết luận: 01 xe mô tô Honda Wave 100, số khung RLHHC09045Y545009, số máy HC09E5122544, xe không có giấy tờ, trị giá: 2.500.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng đen, BKS 33N3 – 2676: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D đã tiến hành tra cứu, xác định xe mô tô trên không thuộc tang vật vụ án nào. Chủ xe là anh Nguyễn Đình K nên Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô BKS 33N3 – 2676 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Đình K.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7plus màu hồng; 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Macbook Air M1 2020 màu xám thu giữ của Phạm Văn C: Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là của anh Phan Mạnh H nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại anh Phan Mạnh H.
Đối với 01 chiếc BKS 29MĐ4 - 014.04, được đăng ký tháng 4/2016 cho xe máy điện là của anh Đặng Văn Q1, quá trình sử dụng đã bị rơi chiếc biển kiểm soát nêu trên và Phạm Văn C đã nhặt được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc BKS 29MĐ4 – 014.04 cho anh Đặng Văn Q1.
Cáo trạng số 17/CT – VKS ngày 07/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam truy tố Phạm Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Văn C từ 18 đến 24 tháng tù. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, hình phạt bổ sung và tuyên án phí đối với bị cáo.
Tại phiên toà: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và không có tranh luận gì. Anh Đặng Văn Q1 có mặt không có ý kiến tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sơ nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, những người tiến hành tố tụng nêu trên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh, tính chất, mức độ tội phạm: Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 26/9/2024, Phạm Văn C đã lợi dụng sơ hở của chủ quản lý tài sản lén lút vào nhà anh Phan Mạnh H, sinh năm 1982, ở TDP N, phường D, thị xã D, trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus, màu hồng giá trị 2.500.000 đồng và 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Macbook Air, màu xám giá trị 12.000.000 đồng.
Mở rộng điều tra còn xác định: Khoảng 15 giờ ngày 14/9/2024, Phạm Văn C còn có hành vi lén lút vào nhà xưởng của anh Nguyễn Đình K, ở thôn C, xã D, huyện T, thành phố Hà Nội trộm cắp chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave 100, màu trắng đen, BKS 33N3 - 2676, trị giá 2.500.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản do Phạm Văn C trộm cắp của 02 bị hại là 17.000.000 đồng.
3
Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác được được pháp luật bảo hộ, đồng thời ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ tránh nhiệm hình sự (TNHS):
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu.
Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự đến cơ quan Công an đầu thú về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt:
Hình phạt chính: Từ những nhận định trên, xét bị cáo là người có nhân thân xấu, ham chơi, lười lao động, không chịu tu dưỡng bản thân, coi thường pháp luật, vì vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp thực tế và khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[5] Về vật chứng vụ án: Đã giải quyết xong trong giai đoạn điều tra, nay không có ai có ý kiến gì nên HĐXX không đặt ra xem xét.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đều đã nhận lại tài sản của mình và đều không có yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
- Về hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội: Buộc bị cáo Phạm Văn C phải nộp án phí hình sự sơ thẩm: 200.000 đồng.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn C 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/09/2024.
Án xử công khai sơ thẩm: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
4
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tươi |
5
Bản án số 16/2025/HSST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 16/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: PHẠM VĂN C PHẠM TỘI "TRỘM CẮP TÀI SẢN"
