|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2025/HSST Ngày: 18-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Danh.
Bà Dương Bích Cảm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Bà Trần Tiến Diễm Hoa – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2025/TLST - HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ Văn H, sinh ngày: 08/8/1993.
Nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông V (Nguyễn) Văn D và bà Võ Thị L; Bản thân có vợ tên Trần Thị Cẩm T, có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án – tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/10/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Võ Thị Cúc E, sinh năm: 1991 (vắng mặt, có đơn ngày 17/02/2025).
Cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Võ Thị L, sinh năm: 1970 (có mặt).
- Trần Thị Cẩm T, sinh năm: 1987 (có mặt).
Cùng cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Văn H là cháu ngoại ông Võ Văn C và bà Võ Thị B ngụ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An nên H thường xuyên đến nhà chơi và biết dì ruột là bà Võ Thị Cúc E đang xây nhà, có gửi tại nhà ông C, bà B 01 (một) két sắt bên trong có cất giữ nhiều tài sản, nên H nảy sinh ý định lấy trộm két sắt. Khoảng 06 giờ ngày 26/9/2024, H đi bộ đến nhà ông C thì thấy ông C, bà B còn đang ngủ nên H lén lút đi vào phòng ngủ của Võ Thị Ngọc Đ. Quan sát thấy chị Đ còn ngủ, bên dưới giường của Đ có 01 (một) két sắt hiệu KOYTO HANCH, khoá điện tử, có khối lượng 31kg, kích thước (33,5x28,5x38) cm, màu xám-bạc được che lại bởi 01 tấm ván, nên H dùng tay lấy tấm ván ra và kéo két sắt ra ngoài. Sau đó, H lén lút khiêng két sắt đi ra cửa bên hông nhà ông C rồi đi ra phía sau đến chỗ ghe của H đã đậu sẵn, cách nhà ông C khoảng 100 m. H để két sắt lên ghe rồi điều khiển ghe đến một con rạch nhỏ gần nhà ông Lê Văn P cùng ngụ ấp T, xã T, cách nhà ông C hơn 01 km, dùng tay đào lỗ bùn ở mé con rạch để chôn giấu két sắt bên dưới. Đồng thời, H dùng 01 (một) tấm ván đậy lên phần bùn vừa lấp rồi dùng 02 (hai) cái bao và bụp dừa che lại. Sau đó, H quay về nhà sinh hoạt bình thường. Đến 17 giờ 30 phút ngày 28/9/2024, bà Cúc E phát hiện bị mất két sắt nên trình báo Công an xã T. Qua truy xét, Cơ quan Công an đưa H về làm việc. Tại Cơ quan Công an, H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình và chỉ ra địa điểm cất giấu két sắt, thu hồi tài sản.
Ngày 30/9/2024, Cơ quan công an tiến hành kiểm tra tài sản, xác định két sắt vẫn còn nguyên vẹn, chưa có dấu hiệu cạy phá, bên trong có 330.000.000 đồng (ba trăm ba mươi triệu đồng) gồm 481 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng, 150 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng, 95 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng, 1000 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng và một số nữ trang gồm nhiều vòng, nhẫn, bông tai.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 55/KL-HĐĐGTS ngày 05 tháng 12 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Long An kết luận: 02 (hai) vòng tròn (vòng hẹ) vàng 18k trọng lượng 02 chỉ 02 phân; 01 (một) vòng tròn vàng 18k trọng lượng 04 phân 09 li; 01 (một) vòng tròn bạc trọng lượng 01 chỉ 05 phân; 02 (hai) chiếc bông tai, đầu tròn đính đá trắng vàng 18k trọng lượng 06 phân 02 li, hai hột đá trắng trọng lượng 01 phân; 02 (hai) chiếc bông tai có khoá gài vàng 18k trọng lượng 04 phân 06 li; 02 (hai) chiếc bông tai, hai đầu có gắn hai hạt hình cầu màu vàng nhạt (bông bẹt) là đồ trang sức; 01 (một) nhẫn tròn có đính đá trắng vàng 18k trọng lượng 09 phân 08 li, hột đá trắng trọng lượng 01 phân 08 li; 01 (một) nhẫn tròn, đính đá trắng vàng 18k trọng lượng 06 phân 03 li, hột đá trắng trọng lượng 01 phân; 01 (một) nhẫn tròn, đính đá đỏ (đá nhỏ không xác định được trọng lượng); 01 (một) nhẫn tròn vàng 18k trọng lượng 01 phân 08 li; 01 (một) nhẫn tròn, đính hạt cầu màu đỏ vàng 18k trọng lượng 04 phân 06 li, hột đá màu đỏ trọng lượng 06 phân 02 li. Tổng giá trị: 31.620.000 đồng (ba mươi mốt triệu sáu trăm hai mươi ngàn đồng).
Tại Kết luận định giá tài sản số: 42/KL-HĐĐGTS ngày 06 tháng 01 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Long An kết luận: 01 (một) két sắt nhãn hiệu KOYTO HANCH, khoá điện tử, Công ty TNHH S, khối lượng 31kg, kích thước (33,5x28,5x38) cm, màu xám-bạc, có giá trị: 1.800.000 đồng (một triệu tám trăm ngàn đồng).
Tại Bản cáo trạng số 20/CT-VKSCG ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 54 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Võ Văn H từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đối với số tang vật thu giữ, Cơ quan cảnh sát điều tra đã hoàn trả cho bị hại Võ Thị Cúc E: 01 (một) két sắt và số tài sản có gồm tiền mặt 330.000.000 đồng, 04 (bốn) vòng tay bằng kim loại vàng, 06 (sáu) bông tai bằng kim loại vàng, 05 (năm) nhẫn bằng kim loại vàng, là phù hợp.
Đối với chiếc ghe trọng tải 05 tấn, là phương tiện bị cáo H chở tài sản trộm được đi cất giấu, qua xác minh, xác định đây là tài sản của bà Võ Thị L, là mẹ ruột của H cho H mượn để đi mua bán trên sông, việc H dùng ghe làm phương tiện phạm tội bà L không biết nên cơ quan cảnh sát điều tra đã hoàn trả ghe cho bà L và không xem xét xử lý.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng là xin giảm nhẹ hình phạt và xin lỗi bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Do cần tiền tiêu xài và biết dì ruột là bà Võ Thị Cúc E đang xây nhà, nên có gửi tại nhà ông Võ Văn C, bà Võ Thị B (là ông bà ngoại bị cáo H) 01 (một) két sắt bên trong có cất giữ nhiều tài sản nên bị cáo H nảy sinh ý định lấy trộm. Khoảng 06 giờ ngày 26/9/2024, H đến nhà ông C và lén lút vào phòng của Võ Thị Ngọc Đ lấy trộm 01 (một) két sắt bên trong có 330.000.000 đồng tiền Việt Nam gồm nhiều mệnh giá; 04 (bốn) vòng tay, 06 (sáu) chiếc bông tai, 05 (nhẫn) đều bằng kim loại vàng 18k. Sau đó, H đem két sắt chôn giấu tại mé rạch cách nhà ông C khoảng 01 km rồi quay về nhà. Qua truy xét, ngày 30/9/2024, Cơ quan công an đã đưa H về làm việc. Tại Cơ quan công an, H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Theo Kết luận định giá tài sản số: 55/KL-HĐĐGTS ngày 05/12/2024, kết luận giá trị tài sản là số nữ trang bị cáo chiếm đoạt trị giá 31.620.000 đồng và theo Kết luận định giá tài sản số: 42/KL-HĐĐGTS ngày 06/01/2025, kết luận giá trị tài sản là 01 (một) két sắt bị cáo chiếm đoạt trị giá 1.800.000 đồng cộng với số tiền mặt 330.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà H chiếm đoạt là 363.420.000 đồng (ba trăm sáu mươi ba triệu bốn trăm hai mươi ngàn đồng). Nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Xét thấy giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại trên 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp định khung tăng nặng hình phạt là “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự.
- Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý thỏa đáng mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự: không.
- Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: trong thời gian tòa án đưa vụ án ra xét xử bị cáo đã tác động vợ là chị Trần Thị Cẩm T bồi thường tiền để sửa chữa tài sản là két sắt bị hư hỏng; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo tích cực phối hợp với Cơ quan công an trong việc thu hồi tài sản, khắc phục hậu quả cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và gia đình có người thân là người có công với Cách mạng (có xác nhận của chính quyền địa phương), nên bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Xét thấy, bị cáo phạm tội có hai tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Do đó cần thiết căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy hiện bị cáo đang bị tạm giam và áp dụng hình phạt tù cũng đủ răn đe, không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
- Đối với chiếc ghe trọng tải 05 tấn, bị cáo H sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, qua xác minh, xác định đây là tài sản của bà Võ Thị L, là mẹ ruột của H cho H mượn để đi mua bán trên sông, việc H dùng ghe chở tài sản đi cất giấu bà L không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã hoàn trả cho bà L và không xem xét xử lý, là phù hợp.
- Về tang vật thu giữ: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tạm giữ và hoàn trả cho bị hại Võ Thị Cúc E: 01 (một) két sắt và số tài sản có trong két gồm tiền mặt 330.000.000 đồng, 04 (bốn) vòng tay bằng kim loại vàng, 06 (sáu) bông tai bằng kim loại vàng, 05 (năm) nhẫn bằng kim loại vàng, là phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự: bị hại Võ Thị Cúc E đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt, tại phiên tòa vắng mặt, nhưng theo hồ sơ thể hiện (bút lục số 70) không yêu cầu, nên không xem xét. Đối với chị Trần Thị Cẩm T, là vợ bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bà Cúc E số tiền 2.000.000 đồng để sửa chữa két sắt bị hư hỏng, tại phiên tòa không có yêu cầu gì về số tiền này, nên không xem xét.
- Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Võ Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Võ Văn H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 04/10/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (18/02/2025) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Về án phí: bị cáo H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa NGUYỄN ĐỨC BẢO |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Cần Giuộc, ngày 18 tháng 02 năm 2025 |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 9 giờ 00 phút ngày 18 tháng 02 năm 2025.
Tại: trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Danh.
Bà Dương Bích Cảm.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2025/TLST-HS, ngày 22/01/2025 đối với bị cáo: Võ Văn Hậu.
Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ vào các chứng cứ vào tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1.Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Võ Văn Hậu phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
2. Về Điều luật áp dụng:
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Võ Văn Hậu 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 04/10/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (18/02/2025) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Về án phí: bị cáo Hậu phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
3. Về hình phạt:
Xử phạt: Võ Văn Hậu 03 (ba năm 06 (sáu) tháng năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 04/10/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (18/02/2025) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
4. Các vấn đề khác:
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Về án phí: bị cáo Hậu phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 15 phút, cùng ngày.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên của Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN NGUYỄN CÔNG DANH – DƯƠNG BÍCH CẢM |
CHỦ TỌA NGUYỄN ĐỨC BẢO |
Bản án số 16/2025/HSST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 16/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Văn H phạm tội "trộm cắp tài sản"
