|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
|
Bản án số: 16/2025/HSST Ngày: 19/02 / 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ -TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hồng Nam;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Việt Hưng;
- Ông Nguyễn Quang Hợp.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ma Đình Dũng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Ngân – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2025/HS-ST ngày 21 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST - HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Văn T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không;
Sinh ngày: 26/3/1987.
Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện tại: Xóm Đ, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Bố: Hoàng Văn Đ; sinh năm: 1957; Mẹ: Hoàng Thị L; Sinh năm: 1959;
Cùng trú tại: Xóm Đ, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba.
Vợ, con: chưa có.
Tiền án: Không;
Tiền sự: 01. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 160/QĐXP-VPHC ngày 19/9/2024 của Công an huyện Đ xử phạt đối với Hoàng Văn T 2.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản (Thể chưa nộp phạt).
Nhân thân: Tại Quyết định số 9900/QĐ-UBND ngày 28/12/2009 của Ủy ban nhân dân huyện Đ quyết định về việc bắt buộc người nghiện ma tuý vào chữa trị, cai nghiện và lao động phục hồi, chống tái nghiện tại Trung tâm Chữa bệnh giáo dục LĐXH huyện đối với Hoàng Văn T, thời gian 12 tháng.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/11/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt)
- Người bị hại:
Anh Đàm Hải Đ1, sinh năm: 1988; Trú tại: xóm T, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Văn N, sinh năm: 1989, trú tại: thôn C, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Anh Vũ Tiến M, sinh năm: 1993, trú tại xóm P, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Văn T (đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nhưng chưa nộp phạt theo Quyết định số 160/QĐXP-VPHC ngày 19/9/2024 của Công an huyện Đ) và Nguyễn Văn N, sinh năm: 1989, trú tại: thôn C, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang đều là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định. Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 06/11/2024, N sử dụng điện thoại di động, có số thuê bao: 0869.232.622 gọi tới số thuê bao: 0974.595.620 rủ Thể đi trộm cắp tài sản. T đồng ý và đi bộ ra đường bê tông cách nhà T khoảng 200m chờ N. Lúc này, N đi vào trong nhà cầm theo 01 chiếc kìm bằng kim loại, có chiều dài 19cm, vỏ tay cầm bằng nhựa màu đỏ đen cất vào trong cốp xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn trắng - đen, BKS: 22B2-336.02 của N rồi điều khiển xe mô tô đến đón T. Sau đó, N điều khiển xe mô tô chở T đi dọc theo đường Q, hướng Thái Nguyên - Tuyên Quang, xem nhà nào sở hở thì sẽ trộm cắp tài sản. Khi đi đến khu vực xóm T, xã Y, huyện Đ thì T và N quan sát thấy có 01 ngôi nhà đang bật điện sáng ngoài sân, tại khu vực hiên có để 02 bao tải thóc không ai trông coi, quản lý (sau xác định là nhà của gia đình anh Đàm Hải Đ1, sinh năm: 1988) nên N và T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của gia đình anh Đ1. N dựng xe mô tô ở rìa đường Q, T và N đi gần đến nhà anh Đ1 thì thấy xung quanh nhà anh Đ1 được rào bằng lưới B40 nên T đi ra mở cốp xe mô tô lấy chiếc kìm bằng kim loại mà N đã chuẩn bị từ trước. Sau đó, T dùng chiếc kìm kim loại cắt lưới rào B40 tạo thành 01 khoảng trống, rồi T cất chiếc kìm kim loại vào trong túi quần. Thể chui qua vị trí tấm lưới B40 vừa cắt để đột nhập vào bên trong sân nhà anh Đ1, còn N thì đứng ở ngoài cảnh giới, trông xe mô tô. Khi vào trong sân nhà anh Đ1, T nhặt dưới đất 01 tấm vải màu đỏ (loại khăn quàng đỏ của con anh Đ1) buộc khoá cửa chính, mục đích để trường hợp gia đình anh Đ1 phát hiện thì sẽ không truy đuổi kịp T và N. Sau đó, T đến hiên nhà đang để 02 bao thóc, Thể bê 01 bao tải bên trong có chứa thóc qua hàng rào cho N bê ra xe mô tô, T quay lại bê tiếp 01 bao tải thóc bé hơn ra xe mô tô. N một mình điều khiển xe mô tô chở 02 bao thóc vừa trộm được cất dấu ở khu vực sân nghĩa trang gần trường Trung học cơ sở Y thuộc xóm Đ, xã Y, huyện Đ. Sau đó, N điều khiển xe mô tô, BKS: 22B2-336.02 quay lại đón T. Khi N quay lại đón T thì T và N nghe thấy tiếng gà gáy từ trong sân nhà anh Đ1 nên N và T đã rủ nhau trộm cắp gà nhà anh Đ1. N, T chui qua chỗ thủng hàng rào lưới B40 thì nhìn thấy chuồng gà nhà anh Đ1. Thể lấy chiếc kìm kim loại trong túi quần ra để cắt lưới B40 quây quanh chuồng gà rồi đi vào phía bên trong chuồng bắt gà. Thể bắt trộm được 06 con gà (gồm 02 con gà trống và 04 con gà mái) cho vào 01 chiếc bao tải dứa, màu trắng, đã cũ mà N vừa nhặt được cạnh chuồng gà. Sau đó, T và N xách bao tải đựng 06 con gà ra ngoài. N điều khiển xe mô tô, chở T ngồi phía sau cầm theo bao tải đựng 06 con gà đến khu vực Nghĩa trang nơi N đang cất dấu 02 bao thóc. Đến nơi N bảo T đứng đợi, còn N một mình điều khiển xe mô tô chở 02 bao thóc vừa trộm cắp được mang đi bán cho một người phụ nữ không quen biết, không biết lai lịch địa chỉ được 500.000 đồng. Bán được thóc, N điều khiển xe mô tô, quay lại đón T. N lấy điện thoại di động gọi và giao dịch bán gà cho anh Vũ Tiến M, sinh năm: 1993, trú tại xóm P, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thì anh M đồng ý mua nên N điều khiển xe mô tô chở T và 06 con gà đi đến khu vực gần Toà án nhân dân huyện Đại Từ, thuộc thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thì T xuống xe đứng đợi, còn N một mình điều khiển xe mô tô đến nhà anh M bán cho 06 con gà cho anh M với giá 650.000 đồng. Anh M sử dụng tài khoản ngân hàng chuyển khoản cho N số tiền 850.000 đồng (gồm 650.000 đồng tiền mua gà và 200.000 đồng tiền anh M nợ N chưa trả). Bán được gà, N điều khiển xe mô tô quay về đón T. Số tiền bán tài sản trộm cắp có được N và T mang đi mua chất ma tuý của một người đàn ông không quen biết tại khu vực di tích lịch sử 27/7 thuộc thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên sử dụng hết.
Về phía gia đình anh Đàm Hải Đ1 sau khi phát hiện bị mất trộm tài sản gồm 02 bao thóc và 06 con gà (trong đó có 02 con gà trống và 04 con gà mái), anh Đ1 đã làm đơn trình báo đến Công an xã Y, huyện Đ đề nghị giải quyết theo quy định.
Qúa trình xác minh nguồn tin, Công an xã Y, huyện Đ đã xác định được đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của gia đình anh Đàm Hải Đ1 vào ngày 06/11/2024 là Nguyễn Văn N và Hoàng Văn T và chuyển hồ sơ, vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ giải quyết theo thẩm quyền.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 43/KL- HĐĐGTS ngày 14/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ xác định tại thời điểm tháng 11/2024:
- + Gía trị 02 bao thóc có tổng khối lượng 60kg, loại thóc Thái Bình, được thu hoạch năm 2024 là 660.000 đồng;
- + Gía trị của 06 con gà (gồm 02 con gà trống và 04 con gà mái), loại gà ta, được nuôi từ nhỏ, tổng khối lượng của 06 con, khối lượng 8,5kg có giá là 1.122.000 đồng.
Như vậy, tổng giá trị tài sản N và T trộm cắp của gia đình anh Đ1 là 1.782.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra, Hoàng Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của gia đình anh Đàm Hải Đ1 như nêu trên. Lời khai của T phù hợp với lời khai của Nguyễn Văn N, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản xác định hiện trường, Kết luận định giá tài sản, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án .
Vật chứng của vụ án gồm:
- + 06 con gà (Trong đó: 02 con gà trống và 04 con gà mái). Ngày 07/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã thu hồi 02 con gà mái và 02 gà trống trả cho anh Đ1 quản lý, chăm sóc. 02 con gà còn lại hiện không thu giữ được
- + 01 hộp niêm phong bằng bìa catton, ký hiệu A, bên trong có chứa 01 chiếc kìm bằng kim loại dài 19 cm, có vỏ tay cầm bằng nhựa màu đỏ đen, trên vỏ bọc tay cầm có chữ EF, đã qua sử dụng;
- + 01 phong bì niêm phong ký hiệu HT1, bên trong có chứa 01 mảnh vải hình tam giác màu đỏ, KT (1,15 x 0,30)m.
- + 01 phong bì niêm phong ký hiệu C, bên trong có chứa điện thoại di động, loại bàn phím cứng, vỏ màu xanh, lắp sim điện thoại: 0974.595.xxx; (Thu giữ của Hoàng Văn T);
- + 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn: Trắng Đen, BKS: 22B2-336.02, đã qua sử dụng (thu giữ của N);
- + 01 phong bì niêm phong ký hiệu ĐTN, bên trong có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V2026, vỏ màu xanh, chứa sim điện thoại 0869.232.xxx (thu giữ của Nguyễn Văn N);
Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Đàm Hải Đ1 và anh Vũ Tiến M không có yêu cầu đề nghị gì đối với N và T.
Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên. Xác định quá trình điều tra không bị ép cung, nhục hình, khai báo trong tình trạng sức khỏe tốt, tỉnh táo. Được nhận bản cáo trạng, đã đọc kỹ và nghe công bố tại phiên tòa, không thắc mắc về nội dung bản cáo trạng. Được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Do có hành vi trên tại bản cáo trạng số 16/CT-VKSĐT ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 BLHS.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 38; Bộ luật hình sự; 106, 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Luật phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T, từ 12 đến 15 tháng tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Dân sự: Không
Vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc kìm bằng kim loại dài 19 cm đã qua sử dụng; 01 mảnh vải hình tam giác màu đỏ, KT (1,15 x 0,30)m.
Tịch thu hóa giá sung quĩ nhà nước: 01 điện thoại di động, loại bàn phím cứng, vỏ màu xanh, lắp sim điện thoại: 0974.595.xxx; (Thu giữ của Hoàng Văn T). 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn: Trắng Đen, BKS: 22B2-336.02, đã qua sử dụng (thu giữ của N); 01 phong bì niêm phong ký hiệu ĐTN, bên trong có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V2026, vỏ màu xanh, chứa sim điện thoại 0869.232.xxx.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh tụng: Bị cáo không tranh tụng gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm mức án nhẹ nhất để cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cở sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét về hành vi của bị cáo: Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo là khách quan, phù hợp với biên bản làm việc, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và những chứng cứ, tài liệu khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở xác định: Khoảng 02 giờ 30 ngày 06/11/2024, lợi dụng gia đình anh Đàm Hải Đ1 thuộc xóm T, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên sở hở trong việc quản lý tài sản, Hoàng Văn T (đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nhưng chưa nộp phạt theo Quyết định số 160/QĐXP-VPHC ngày 19/9/2024 của Công an huyện Đ) và Nguyễn Văn N (chưa có tiền án, tiền sự) đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản gồm 02 bao thóc, có tổng khối lượng 60kg, trị giá: 660.000 đồng và 06 con gà, có tổng khối lượng 8,5kg, giá trị là 1.122.000 đồng (Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 1.782.000 đồng). Sau khi trộm cắp được tài sản, T và N đã mang đi bán, được tổng số tiền 1.150.000 đồng, rồi cùng nhau đi mua ma tuý, sử dụng cho bản thân hết. Cơ quan điều tra đã thu hồi được 04 con gà và trả lại cho gia đình anh Đ1 quản lý. Số tài sản còn lại không thu hồi được. Tuy tài sản trộm cắp có giá trị dưới 2.000.000đ nhưng trước đó bị cáo T đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” chưa chấp hành song.
Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
Điều 173 quy định.
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá ... dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
a, Đ2 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm.;
Cáo trạng số 16/CT-VKSĐT ngày 21/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất của vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
[4] Xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- - Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án nhưng có 01 tiền sự và là đối tượng nghiện ma túy nên được xác định là có nhân thân sấu.
- - Về tình tiết tăng năng, giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là: “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; “người phạm tội thành khẩn khai báo”.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt áp dụng: Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các yếu tố về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo thấy rằng: Tuy tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị dưới 2.000.000đ nhưng bị cáo nhân thân sấu là đối tượng nghiện ma túy, trước đó bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản. Do đó, cần phải xử lý nghiêm minh bằng hình phạt tù mới đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng và hiện đang tạm giam, việc áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền không có tính khả thi, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Vật chứng của vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc kìm bằng kim loại dài 19 cm đã qua sử dụng; 01 mảnh vải hình tam giác màu đỏ, KT (1,15 x 0,30)m.
Tịch thu hóa giá sung quĩ nhà nước: 01 điện thoại di động, loại bàn phím cứng, vỏ màu xanh, lắp sim điện thoại: 0974.595.xxx; (Thu giữ của Hoàng Văn T) ; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn Trắng Đen, BKS: 22B2-336.02, đã qua sử dụng (thu giữ của N); 01 phong bì niêm phong ký hiệu ĐTN, bên trong có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V2026, vỏ màu xanh, chứa sim điện thoại 0869.232.xxx của Nguyễn Văn N. Đây là phương tiện T1 và N dùng vào việc trộm cắp tài sản.
[6] Về dân sự: Người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bị cáo phải bồi thương nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[9] Đối với Nguyễn Văn Nghĩa là người cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cùng T1 nhưng N chưa có tiền án, tiền sự về tội Chiếm đoạt tài sản, giá trị trộm cắp tài sản dưới 2.000.000 đồng. Xét thấy hành vi của N không cấu thành tội phạm nên Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N theo quy định.
Liên quan trong vụ án có: Anh Nguyễn Tiến M1 là người mua 06 con gà do N trộm cắp mà có. Qúa trình điều tra, xác định anh M1 không biết và N không nói 06 con gà là tài sản trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Đ không xem xét xử lý đối với anh M1.
Qúa trình điều tra, N và Thể xác định ngày 06/11/2024, N đã bán 02 bao thóc cho một người phụ nữ không quen biết lấy 500.000 đồng mang đi mua chất ma tuý của người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch tại khu di tích lịch sử 27/7 thuộc Tổ dân phố B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không có căn cứ điều tra, xử lý đối với người phụ nữ và người đàn ông trên.
[10] Mức hình phạt cũng như các vấn đề khác đối với bị cáo mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là có căn cứ, HĐXX cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173 BLHS; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T 12 (Mười hai) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 08/11/2024.
Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về dân sự: Không
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01hộp niêm phong bằng bìa giấy catton kí hiệu A, bên trong chứa chiếc kìm bằng kim loại dài 19 cm, có vỏ bọc tay cầm bằng nhựa màu đỏ đen, trên vỏ bọc tay cầm có chữ EF đã qua sử dụng; 01 bì niêm phong ký hiệu HT1, bên trong chứa 01 mảnh vải hình tam giác màu đỏ, kích thước 1,15 x 0,30m.
- - Tịch thu hóa giá sung quĩ nhà nước: Điện thoại di động, loại bàn phím cứng, vỏ màu xanh, trên vỏ có ghi dòng chữ V, chứa sim điện thoại: 0974.595.xxx, số imei: 863366071142286 đã qua sử dụng, trong 01 bì niêm phong ký hiệu C.
- 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn: Trắng Đen, BKS: 22B2-336.02, số khung : RLCUE3240-JY197236, số máy: E3X9E530243, đã qua sử dụng; 01 phong bì niêm phong ký hiệu ĐTN, bên trong chứa điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V2026, vỏ màu xanh, chứa sim điện thoại 0869.232.xxx, số imei 1: 861177059906432, imei 2: 861177059906424 đã qua sử dụng.
Tình trạng vật chứng như biên bản bàn giao ngày 04/02/2025giữa Chi cục thi hành án dân sự và công an huyện Đ.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Án xử công khai sơ thẩm.
Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với người có mặt và 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với người vắng mặt./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Ngô Hồng Nam |
Bản án số 16/2025/HSST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 16/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
