Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

KHU VỰC 9 – BẮC NINH

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số 16/2025/HSST

Ngày 18/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Cây.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đức, bà Bùi Thị Lợi.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Thập – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Định - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Bắc Ninh và điểm cầu Trại tạm giam số 01 - Công an tỉnh B. Toà án nhân dân Khu vực 9 - Bắc Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 23/2025/TLST- HS ngày 31/10/2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST- HS ngày 6/11/2024 đối với các bị cáo:

1. Bị cáo Nguyễn Thanh H, sinh năm 1992.

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam

Nơi đăng ký HKTT: Thôn H, xã N, tỉnh Lào Cai.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 9/12. Họ và tên cha: Nguyễn Thanh Y, sinh năm 1964 (đã chết). Họ và tên mẹ: Hoàng Thị T, sinh năm 1968. Gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ ba. Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/7/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 - Công an tỉnh B.

2. Bị cáo Hoàng Văn L, sinh năm 1978.

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam

Nơi đăng ký HKTT: Thôn Q, xã N, tỉnh Lào Cai.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Tày. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 9/12. Họ và tên cha: Hoàng Đình N, sinh năm 1925 (đã chết). Họ và tên mẹ: Hoàng Thị N1, sinh năm 1934 (đã chết). Vợ: Hoàng Thị T1, sinh năm 1978 (đã ly hôn). Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh 2001, con nhỏ sinh năm 2007.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Không.

Nhân thân: Ngày 02/8/2010, Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Yên Bái ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người nghiện vào Trung tâm Chữa bệnh- Giáo dục- Lao động xã hội để cai nghiện và chữa trị bắt buộc trong thời gian 24 tháng. Ngày 04/8/2012, L đã chấp hành xong.

Tại bản án số 75/2013/HSST ngày 17/12/2013 của Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ Luật hình sự 1999. Lợi chấp hành xong toàn bộ quyết định của Bản án ngày 01/9/2014.

Tại bản án số 341/2020/HSST ngày 31/12/2020 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt Hoàng Văn L 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự 2015. Lợi chấp hành xong toàn bộ quyết định của bản án ngày 01/3/2022

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/7/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 - Công an tỉnh B.

3. Bị cáo Hoàng Đình H1, sinh năm 2003.

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam

Nơi đăng ký HKTT: Thôn H, xã N, tỉnh Lào Cai.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Tày. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 9/12. Họ và tên cha: Hoàng Đình H2, sinh năm 1981. Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1985. Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 19/8/2022, Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 15 tháng. Ngày 30/11/2023, H1 đã chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/7/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 - Công an tỉnh B.

(Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1999. (vắng mặt)

Nơi đăng ký HKTT: Thôn H, xã N, tỉnh Lào Cai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 00 phút ngày 15/7/2025, tại khu vực C Đền Q thuộc tổ dân phố L, phường M, tỉnh Bắc Ninh. Tổ công tác của Công an phường M kiểm tra, bắt quả tang Nguyễn Thanh H, sinh năm 1992; Hoàng Đình H1, sinh năm 2003, đều có HKTT tại thôn H, xã N, tỉnh Lào Cai và Hoàng Văn L, sinh năm 1978, có HKTT tại thôn Q, xã N, tỉnh Lào Cai có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải H đang mặc 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng mà H khai nhận là ma túy Heroine của H, H1 và L góp tiền mua để cùng sử dụng, thu giữ tại cạp quần trước bụng của H số tiền 100.000 đồng, thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu ELEGANT màu đen - bạc không gắn biển kiểm soát, có số khung 006294, số máy 006294. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội qua tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định và đưa các đối tượng về trụ sở để giải quyết theo thẩm quyền.

Cùng ngày 15/07/2025, Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra ma túy đối với H, L và H1. Kết quả kiểm tra H, L dương tính với ma túy, H1 âm tính với ma túy.

Tại Kết luận giám định số 1440/KL-KTHS ngày 17/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận “Chất bột màu trắng bên trong 01 (một) gói nhỏ bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,2261 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine (H).

Với nội dung trên, tại bản cáo trạng số 09/CT-VKSKV9 ngày 31/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh H, bị cáo Hoàng Đình H1 và bị cáo Hoàng Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo H, bị cáo H1 và bị cáo L đã khai nhận như sau:

Bị cáo H là người sử dụng ma túy Heroine từ khoảng cuối năm 2023 đến nay, L sử dụng ma túy Heroine từ khoảng năm 2000 đến nay, H1 sử dụng ma túy Heroin từ khoảng năm 2022 cho đến nay. H, L, H1 có quen biết nhau và cùng làm thuê tại Khu công nghiệp T thuộc phường T, tỉnh Bắc Ninh.

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 15/07/2025, sau khi ăn cơm xong tại công trường, L rủ H đi mua ma túy về sử dụng, lúc này H1 đang ở trong nhà vệ sinh nghe thấy nên cũng ra xin H, L góp tiền mua ma túy về sử dụng, L và H đồng ý. H, H1 và L thống nhất và ra gặp chị Nguyễn Thị T2 là người chi trả tiền công và nấu cơm trong công trường để ứng 400.000 đồng tiền công. Trong đó H ứng 200.000 đồng, L và H1 mỗi người ứng 100.000 đồng, chị T2 đồng ý và đưa cho L cầm số tiền 400.000 đồng.

Sau đó, H tự ý lấy xe mô tô nhãn hiệu ELEGANT, màu đen – bạc, biển kiểm soát 98N3-6150 của anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1999, trú cùng thôn H với H và đang ở cùng công trường với H chở theo H1 ngồi giữa, L ngồi sau cùng. Khi đến khu vực gần cổng đền Q thì H dừng xe bảo H1 và L đứng đợi ở ngoài, để H điều khiển xe mô tô đi vào trong một mình. H và L đồng ý, đồng thời L đưa cho H số tiền 400.000 đồng để mua ma túy. H cầm 300.000 đồng trên tay trái, còn 100.000 đồng H cài vào bên trong cạp quần phía trước bụng H đang mặc. Khi H đi được khoảng 200m thì gặp một người đàn ông không quen biết có biểu hiện nghiện ma túy, H tiến lại gần và nói: “Anh để cho em ba trăm”, ý H hỏi mua ba trăm nghìn ma túy loại Heroine thì người đàn ông đồng ý. H đưa cho người đàn ông 300.000 đồng, người đàn ông cầm tiền và đưa lại cho H 01 gói giấy bạc màu trắng. H cầm và mở gói giấy bạc màu trắng ra thì thấy bên trong có chứa chất bột màu trắng, biết là ma túy Heroine nên đã gói lại và cất giấu vào trong túi quần phía trước bên phải H đang mặc rồi điều khiển xe mô tô quay lại vị trí L và H1 đang đứng đợi. Khi H ra đến nơi thì bị tổ công tác công an phường M kiểm tra, thấy vậy H1, L bỏ chạy thì bị tổ công tác Công an truy đuổi và bắt giữ được. Tổ công tác Công an phường M đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Trong nội dung tranh tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày luận tội. Sau khi phân tích đánh giá các tình tiết định tội, xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh H, bị cáo Hoàng Đình H1 và bị cáo Hoàng Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự 2015.

Xử phạt bị cáo L từ 03 năm 08 tháng đến 04 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/7/2025.

Xử phạt bị cáo H, bị cáo H1 mỗi bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 03 năm 10 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/7/2025.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo kinh tế khó khăn nên miễn hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định được đựng trong 01 phong bì thư dán kín, bên ngoài có chữ ký của người tham gia niêm phong và có dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh B. Trả lại anh G xe mô tô nhãn hiệu ELEGANT màu đen - bạc không gắn biển kiểm soát, có số khung 006294, số máy 006294. Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 100.000 đồng thu giữ của bị cáo H.

Các bị cáo nhận tội, không tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về trình tự, thủ tục tố tụng:

Quá trình điều tra, truy tố những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là đầy đủ và đúng theo quy định của pháp luật. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo H, H1 và L không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp và phù hợp với quy định của pháp luật.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: Hồi 13 giờ 00 phút ngày 15/7/2025, tại khu vực C Đền Q thuộc tổ dân phố L, phường M, tỉnh Bắc Ninh. Tổ công tác Công an phường M, tỉnh Bắc Ninh bắt quả tang H, H1 và L đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,2261 gam ma túy Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Như vậy, có đủ căn cứ kết luận hành vi của Nguyễn Thanh H, Hoàng Đình H1 và Hoàng Văn L đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025, như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về nguyên nhân, mục đích, vai trò, tính chất của hành vi phạm tội:

Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội là do các bị cáo là người đã từng sử dụng chất ma tuý, sa đà vào tệ nạn xã hội nên đã có hành vi tàng trữ ma tuý với mục đích sử dụng cho bản thân. Các bị cáo coi thường pháp luật, mặc dù biết rõ tác hại của ma túy, biết hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội.

Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo L là người khởi xướng rủ bị cáo H góp tiền mua ma túy, sau đó bị cáo H1 cũng cùng tham gia. Quá trình thực hiện hành vi phạm tội bị cáo H là người tích cực nhất, bị cáo hưởng ứng tích cực và lấy xe mô tô chở H1 và L đi tìm mua ma túy để sử dụng, đồng thời là người trực tiếp đi tìm đối tượng bán ma túy để mua, H cũng là người bỏ ra số tiền nhiều nhất. Hội đồng xét xử đánh giá vai trò của bị cáo H là cao nhất, sau đến vai trò của bị cáo L là người khởi sướng, vai trò của bị cáo H1 thấp nhất trong vụ án.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho cộng đồng và xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt, để lại hệ lụy xấu cho xã hội. Do vậy hành vi phạm tội này phải được xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung, đồng thời cần xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm khắc, phạt cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo đối với các bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung tội phạm trên địa bàn.

[4]. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Cả ba bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Về tình tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra các bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào khác.

Về nhân thân: Bị cáo H không có nhân thân xấu. Bị cáo L có nhân thân xấu đã hai lần bị Tòa án kết án, một lần bị áp dụng biện pháp đưa vào trung tâm chữa bệnh – giáo dục – Lao động để cai nghiện và chữa trị bắt buộc. Bị cáo H1 năm 2022 cũng bị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Căn cứ nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy đối với lần phạm tội này của các bị cáo, cần xử phạt cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới đủ điều kiện cải tạo các bị cáo thành người công dân tốt. Xử phạt bị cáo L với mức phạt cao nhất, bị cáo H tuy vai trò lớn hơn bị cáo H1 nhưng bị cáo H1 có nhân thân xấu nên xử bị cáo H, bị cáo H1 với mức phạt ngang nhau và thấp hơn bị cáo L.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định của điều luật có thể áp dụng hình phạt bổ sung đối phạt tiền đối với các bị cáo. Tuy nhiên, các bị cáo nghề nghiệp không ổn định, kinh tế khó khăn nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về xử lý vật chứng: Đối với mẫu vật còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành xét thấy cần tịch thu tiêu huỷ. Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 100.000 đồng thu giữ của bị cáo H. Trả lại anh Nguyễn Văn G chiếc xe mô tô nhãn hiệu ELEGANT màu đen – bạc không gắn biển kiểm soát, có số khung 006294, số máy 006294 do anh G không biết việc các bị cáo đã lấy xe đi mua ma túy.

[5]. Liên quan đến vụ án có:

Đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” của H và L, C phường M ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt “Cảnh cáo” là phù hợp. Đối với hành vi của H điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe, điều khiển xe trong tình trạng trong cơ thể có chất ma túy. Công phường M đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp. Đối với anh G không biết việc H, H1 và L dùng xe mô tô của anh để đi mua ma túy. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý đối với anh G là phù hợp.

Đối với người người đàn ông bán ma túy cho H. Do H không biết tuổi, họ tên, địa chỉ cụ thể của người đàn ông này. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B không đủ cơ sở để xác minh làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp. Đối với chiếc biển kiểm soát 98N3-6150, quá trình các bị cáo điều khiển xe chiếc biển đã bị rơi mất, tuy nhiên các bị cáo khai không biết chiếc biển bị rơi từ khi nào, rơi ở đâu. Công an phường M đã ra thông báo truy tìm nhưng đến nay chưa có kết quả, khi nào tìm được sẽ xem xét xử lý sau.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H, bị cáo Hoàng Văn L và bị cáo Hoàng Đình H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ Luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ Luật hình sự năm 2015. Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ Luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

1. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn L 03 năm 10 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/7/2025.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H, bị cáo Hoàng Đình H1 mỗi bị cáo 03 năm 08 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/7/2025.

Tiếp tục tạm giam bị cáo H, bị cáo L và bị cáo H1 mỗi bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án 18/11/2025 để đảm bảo thi hành án.

3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định được đựng trong 01 phong bì thư dán kín, bên ngoài có chữ ký của người tham gia niêm phong và có dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh B, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định. Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 100.000 đồng (số tiền này đã nộp vào tài khoản của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9- Bắc Ninh). Trả lại anh Nguyễn Văn G 01 xe mô tô hiệu ELEGANT màu đen - bạc không gắn biển kiểm soát, số khung 006294, số máy 006294 (Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 18/11/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh B và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9 – Bắc Ninh).

4. Về án phí: Bị cáo H, bị cáo L và bị cáo H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án./.

Nơi nhận

  • -TAND tỉnh Bắc Ninh.
  • -VKSND tỉnh Bắc Ninh.
  • -Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh Bắc Ninh.
  • -VKSND Khu vực 9 – Bắc Ninh.
  • -Phòng THA khu vực 9 – Bắc Ninh.
  • -Những người tham gia tố tụng.
  • -Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa.

Nguyễn Sỹ Cây

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HSST ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – BẮC NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 16/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Hoàng Văn L, bị cáo Nguyễn Thanh H và bị cáo Hoàng Đình H là con nghiện rủ nhau mua ma túy về cùng sử dụng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger