|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THÁI NGUYÊN Bản án số: 16/2025/HSST Ngày 14/11/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Thu
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Tiến Cường
2. Bà Lành Thị Hải
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chung – Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Mai Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 6 – Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2025/TLST - HS ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Bùi Công T (tên gọi khác: Không); sinh ngày 21 tháng 11 năm 1989 tại tỉnh Thái Nguyên; CCCD số: [...], ngày cấp: 12/11/2022; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ E, phường B, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Bùi Công Đ và bà: Đinh Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không.
Tiền án: 09 tiền án.
+ Bản án số 01 ngày 17/01/2008 của Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn (cũ) xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 25 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Bản án số 07 ngày 25/02/2009 của Tòa án nhân dân thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn (cũ) xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp với bản án số 01 ngày 17/01/2008 của Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, phải chịu hình phạt chung là 27 tháng 28 ngày tù.
+ Bản án số 63 ngày 28/9/2011 của Tòa án nhân dân thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn (cũ) xử phạt 8 tháng tù, sau đó ngày 20/12/2011 Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử phúc thẩm xử phạt 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 42.
+ Bản án số 16 ngày 21/01/2013 của Tòa án nhân dân thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn (cũ) xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Bản án số 69 ngày 7/9/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn (cũ) xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Bản án số 02 ngày 23/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn (cũ) xử phạt 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Bản án số 16 ngày 29/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn (cũ) xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Bản án số 03 ngày 08/01/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn (cũ) xử phạt 20 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Bản án số 18 ngày 12/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn (cũ) xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bùi Công T kháng cáo, ngày 24/7/2023 Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn (cũ) xét xử phúc thẩm, xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 21. Ngày 06/12/2024 Bùi Công T chấp hành án xong, chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh T từ ngày 18/7/2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Chị Bàn Thị N, sinh năm 2004; trú tại: Thôn N, xã P, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phan Văn H1, sinh năm 1993; trú tại: Tổ A, phường Đ, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 09/7/2025, Bùi Công T (sinh năm 1989, trú tại tổ E, phường B, tỉnh Thái Nguyên) đến nhà Phan Văn H1 (tên thường gọi là T1, sinh năm 1993, trú tại tổ A, phường Đ, tỉnh Bắc Kạn) chơi sau đó T nảy sinh ý định đến Bệnh viện Đ1 để trộm cắp tài sản nhưng không nói mục đích cho H1 biết. T nói với H1 lấy xe để đưa T đi, Hòa đồng Ý và mượn xe đạp điện màu sơn đỏ không có biển kiểm soát của cháu gái là Nông Hoàng A (sinh năm 2010, trú tại tổ A, phường Đ, tỉnh Thái Nguyên) rồi chở T đến Bệnh viện Đ1. Khi đến nơi, T xuống xe và bảo H1 khoảng 15 giờ đến đón T, sau đó H1 đi về nhà. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, H1 tiếp tục điều khiển xe đạp điện đã mượn lên Bệnh viện để đón T. Lên đến nơi, H1 thấy T đang đợi ở chỗ T xuống xe, T bảo H1 đèo đến khu vực khoa Nhi của Bệnh viện thuộc tầng 2 nhà G. Khi T đi qua phòng bệnh số 8 thấy không có ai trong phòng, T nhìn thấy có 02 chiếc điện thoại di động đang đặt trên giường bệnh nên T đi vào trong phòng nhanh chóng trộm cắp 02 chiếc điện thoại di động trên, gồm: 01 chiếc Iphone XSMAX màu trắng và 01 chiếc VIVO màu vàng của chị Bàn Thị N, sinh năm 2004, trú tại thôn N, xã P, tỉnh Thái Nguyên rồi cho vào trong túi quần và đi ra khỏi phòng, lúc này H1 vẫn đang đi ở hành lang tầng 2 và không biết T đã vào trong phòng điều trị số 08 trộm cắp được 02 chiếc điện thoại. Sau khi trộm cắp được điện thoại, T gọi H1 lấy xe đưa T về nhà. Khi đến nhà Trường, H1 đi về nhà mình còn T vào nhà cất 02 chiếc điện thoại trộm cắp được vào trong phòng ngủ.
Sau khi phát hiện mất tài sản, chị Bàn Thị N trình báo cơ quan Công an giải quyết. Qua rà soát camera Bệnh viện, tiến hành truy xét Cơ quan Công an xác định đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp là Bùi Công T, ngày 10/7/2025 Công an phường Đ triệu tập T đến làm việc T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và tự nguyện giao nộp 02 chiếc điện thoại đã trộm cắp tại phòng điều trị số 8, nhà G Bệnh viện Đ1 vào ngày 09/7/2025.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 2117 ngày 25/8/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Thái Nguyên kết luận:
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu trắng, số IMEI: 353111101474425, máy cũ đã qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 09/7/2025 có giá trị 4.067.000 đồng (bốn triệu không trăm sáu bảy nghìn đồng);
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu vàng, máy cũ đã qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 09/7/2025 có giá trị 193.000 đồng (một trăm chín ba nghìn đồng).
Tổng giá trị 02 chiếc điện thoại trên là 4.260.000 đồng (bốn triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng).
*Về trách nhiệm dân sự: Chị Bàn Thị N là bị hại trong vụ án đã được nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bị cáo Bùi Công T phải bồi thường về dân sự.
Tại Cơ quan điều tra, Bùi Công T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 09/CT – VKSKV6 ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Bùi Công T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
......
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm:
......
g) Tái phạm nguy hiểm.
......
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Tại phiên toà:
- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
Tuyên bố bị cáo Bùi Công T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Bùi Công T từ 30 đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam 18/7/2025.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là “phạt tiền” đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Bàn Thị N đã được nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bị cáo Bùi Công T phải bồi thường về dân sự. Do vậy đề nghị HĐXX không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Bùi Công T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
- Người bị hại chị Bàn Thị N vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đó xác nhận chị đã được trả lại 02 chiếc điện thoại di động bị mất trộm và không yêu cầu bị cáo Bùi Công T bồi thường về dân sự. Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị HĐXX xem xét theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phan Văn H1 có lời khai: Anh là người mượn xe đưa T đến Bệnh viện Đ1. Tuy nhiên giữa anh và T không có sự bàn bạc về việc trộm cắp tài sản, bản thân anh không biết việc T trộm cắp 02 chiếc điện thoại trong phòng điều trị số 8 và cũng không được hưởng lợi gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Bùi Công T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án do vậy có căn cứ xác định:
Khoảng hơn 16 giờ ngày 09/7/2025, tại phòng điều trị số 8, khu N, khoa N1 – Bệnh viện Đ1 thuộc tổ D, phường Đ, tỉnh Thái Nguyên, Bùi Công T đã thực hiện hành vi trộm cắp 02 chiếc điện thoại di động gồm 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone XS Max và 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo của chị Bàn Thị N, có tổng giá trị tài sản là 4.260.000 đồng (bốn triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng).
Bị cáo đã có 09 tiền án đều về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích. Bản án gần đây nhất là bản án số 21/HSPT, ngày 24/7/2023 Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên) đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung là “tái phạm nguy hiểm” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tính đến thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản lần này, bị cáo chưa được xóa án tích nên hành vi phạm tội lần này của bị cáo thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến nay bản thân bị cáo đã 09 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và các lần phạm tội đều đã bị Toà án xét xử, chưa được xoá án tích. Tuy nhiên bị cáo không lấy khoản lợi bất chính thu được từ việc phạm tội làm nguồn thu nhập và nguồn sống chính. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Thái Nguyên không áp dụng tình tiết định khung tăng nặng là “Có tính chất chuyên nghiệp” theo điểm b khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự đối với bị cáo mà truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự.
[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu: đã có 09 tiền án đều về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, bản thân đã nhiều lần được giáo dục, cải tạo nhưng không tiến bộ. Ngày 06/12/2024 bị cáo chấp hành án xong trở về địa phương nhưng đến ngày 09/7/2025 lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn, hối cải đối với hành vi phạm tội đã gây ra do vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ là ông Bùi Công Đ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba và Kỷ niệm chương Cựu chiến binh Việt Nam nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù trong một thời gian nhất định mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là “phạt tiền” đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, người bị hại vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt trong đơn xác nhận đã được nhận lại tài sản, nay không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm do vậy HĐXX không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Quá trình điều tra xác định 02 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu trắng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu vàng, đều đã qua sử dụng là của chị Bàn Thị N (sinh năm 2004, trú tại thôn N, xã P, tỉnh Thái Nguyên). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định.
- Đối với 01 áo thể thao màu đỏ, áo cộc tay, hai bên cánh áo màu trắng, áo cũ đã qua sử dụng; 01 quần bò dài màu xanh, quần cũ đã qua sử dụng tạm giữ của Bùi Công T, hiện không còn giá trị sử dụng, bị cáo không đề nghị xin lại, cần tịch thu tiêu huỷ.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Các vấn đề khác: Trong vụ án còn có Phan Văn H1 là người đã cùng T lên khu vực nhà G, khoa N1 Bệnh viện Đ1. Quá trình điều tra xác định, H1 và T không có sự bàn bạc về việc trộm cắp tài sản, H1 không biết T trộm cắp 02 chiếc điện thoại trong phòng điều trị số 8 và cũng không được hưởng lợi gì. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ xem xét vai trò đồng phạm của H1.
Đối với cháu Nông Hoàng A là người cho Phan Văn H1 mượn xe đạp điện để chở Bùi Công T lên Bệnh viện Đ1. Cháu A không biết việc H1 mượn xe đưa T đi sau đó T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nên Cơ quan điều tra không tạm giữ chiếc xe và không xem xét trách nhiệm đối với cháu A.
Ngoài ra, ngày 10/7/2025 khi triệu tập Bùi Công T làm việc, Công an phường Đ, tỉnh Thái Nguyên đã tiến hành test thử phát hiện nhanh chất ma tuý, kết quả T dương tính với chất ma túy, loại heroine. Kết quả xác minh, T không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 256a Luật sử đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2025 nên không đủ căn cứ xử lý T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T chuyển tài liệu đến Công an phường B để xử lý theo quy định.
[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí đối với bị cáo là phù hợp, có cơ sở để chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
1.Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Bùi Công T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Công T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 18/7/2025.
3.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) áo thể thao màu đỏ, cộc tay, hai bên cánh áo màu trắng; 01(Một) quần bò dài màu xanh.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 6 – Thái Nguyên).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.
Bị cáo Bùi Công T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nguyệt Thu |
Bản án số 16/2025/HSST ngày 14/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản (criminal case)
- Số bản án: 16/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự. 1.Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Bùi Công Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”. 2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Công Tr 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 18/7/2025.
