|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B T THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2025/HSST Ngày: 06 - 03 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B T, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Nhân – cán bộ hưu trí.
2. Ông Đỗ Trọng Tuấn – cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Thạch Thị Thi, là thư ký Tòa án nhân dân quận B T, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B T tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cần - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận B T, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 09/2025/TLST - HS, ngày 25 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2025/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 02 năm 2025 đối với
* Bị cáo:
Họ và tên: Trần Tấn T; tên gọi khác: Bé T1.
Giới tính: Nam;
Sinh ngày: 14/10/1984;
Nơi sinh: Cần Thơ;
Nơi ĐKTT: 1, đường L, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ; Nơi ở hiện tại: 1, đường L, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ;
Quốc tịch: Việt Nam;
Trình độ học vấn: 06/12
Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: buôn bán;
Họ và tên cha: Trần Văn T2 (chết);
Họ và tên mẹ: Lê Thị Bạch Y, sinh năm 1952;
Họ và tên vợ: Nguyễn Hồng C, sinh năm 1988;
Tôn giáo: không;
Anh em: Có 02 người anh, lớn sinh năm 1976, nhỏ sinh năm 1980; Con: Có 02 người, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2019;
Tiền án; Tiền sự: không;
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/11/2024, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực B, thành phố Cần Thơ.
Bị cáo có mặt.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Hồng C, sinh năm 1988; nơi cư trú: 1, đường L, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ – có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dụng vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 06/11/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy Công an quận B có tiếp nhận nguồn tin về tội phạm do quần chúng nhân dân cung cấp về đối tượng có liên quan đến ma túy trên tuyến đường C, quận B, thành phố Cần Thơ, phát hiện Trần Tấn T điều khiển xe mô tô biển số 65D1-193.88 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua làm việc, T thừa nhận bản thân có sử dụng ma túy Khay (Ketamine) tại nhà và có cất giấu dụng cụ sử dụng ma túy tại nhà số A, đường L, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở Trần Tần Tài thì phát hiện trên nền nhà dưới giường ngủ và dưới tủ két sắt trong phòng ngủ của T có các hạt tinh thể không màu và chất bột màu trắng. T thừa nhận tinh thể không màu và chất bột màu trắng là ma túy K (Ketamine) của T mua sử dụng làm rơi trên nền nhà. Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản thu giữ tang vật. Vật chứng thu giữ gồm:
- - Tinh thể không màu (nghi là ma túy) thu giữ trên nền nhà dưới giường ngủ và dưới tủ két sắt trong phòng ngủ của T được để trong gói nilon không màu, nẹp miệng, viền đỏ và niêm phong:
- - Chất bột màu trắng (nghi là ma túy) thu giữ trên nền nhà dưới giường ngủ và dưới tủ két sắt trong phòng ngủ của T được để trong gói nilon không màu, nẹp miệng, viền đỏ;
- - 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1000 đồng (một nghìn đồng) thu giữ trên đầu tủ két sắt
- - 02 (hai) đoạn ống hút nhựa thu giữ trong tủ quần áo;
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu IPHONE màu xám, bên trong có sim thuê bao số: 0919999313 và 0907832233 thu giữ trong túi quần bên trái T đang mặc,
- - 01 (một) xe mô tô biển số 65D1-193.88 nhãn hiệu HONDA, loại xe SH150D, xe có một kính chiếu hậu bên trái, màu sơn hiện tại màu vàng, có số khung: 10A09F004553; số máy: 1004749KTGE1, xe đã qua sử dụng do T điều khiển.
Tại bản Kết luận giám định số 368/KL-KTHS ngày 14 tháng 11 năm 2024 của Phòng K1 Công an thành phố C, kết luận:
- - Tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định là ma túy, loại Ketamine có khối lượng là 1,4237 gam, ký hiệu M1.
- - Chất bột màu trắng gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine có khối lượng là 0,2535 gam, ký hiệu M2 (BL30)
Đối với người thanh niên tên D bán ma túy cho bị can T, qua xác minh không rõ lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ có cơ sở sẽ xử lý sau.
- Đối với tờ tiền Việt Nam 1000 đồng (một nghìn đồng) và hai đoạn ống hút nhựa là của bị can được sử dụng làm dụng cụ để sử dụng ma túy Khay (Ketamine).
- Đối với điện thoại di động hiệu IPHONE màu xám, là điện thoại của Nguyễn Hồng C là vợ bị can T đặt mua, sau đó có đưa cho T mượn để gắn esim số thuê bao: 0919999313 và 0907832233 vào sử dụng. Qua tra cứu hai số thuê bao trên là của bị can T đăng ký chủ thuê bao, trong đó bị can T có sử dụng số thuê bao 0919999313 liên lạc mua ma túy của D.
- Đối với xe mô tô biển số 65D1-193.88 nhãn hiệu HONDA, loại xe SH150D là của bị can Trần Tấn T đăng ký chủ xe. Bị can không có sử dụng xe mô tô biển số 65D1-193.88 để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy,
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, Trần Tấn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi cất giấu 02 gói ma túy đã mua của D trong nhà, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, thu giữ tang vật.
Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKSBT ngày 23/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ truy tố Trần Tấn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ Luật Hình sự.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đồng thời phân tích đánh giá, tính chất, mức độ, động cơ, hành vi phạm tội đối với bị cáo. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Tấn T mức án từ 02 năm đến 03 năm tù. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: Một gói niêm phong số: 368/KL-KTHS ngày 14 tháng 11 năm 2024 của Phòng K1 Công an thành phố C, khối lượng mẫu vật hoàn lại sau giám định M1: 1,1748 gam và M2: 0,1026 gam, 02 (hai) đoạn ống hút nhựa; tịch thu sung công: 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1000 đồng (một nghìn đồng); trả lại cho bà Nguyễn Hồng C 01 (một) điện thoại di động hiệu IPHONE màu xám; trả lại cho Trần Tấn T: 01 (một) xe mô tô biển số 65D1-193.88 nhãn hiệu HONDA, loại xe SH150D, xe có một kính chiếu hậu bên trái, màu sơn hiện tại màu vàng, có số khung: 10A09F004553; số máy: 1004749KTGE1, xe đã qua sử dụng; 01 esim thuê bao số 0907832233. Đề nghị Công ty D1 thu hồi esim thuê bao số: 0919999313 do Trần Tấn T đăng ký chủ thuê bao.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người liên quan, vật chứng đã thu giữ được, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định: ngày 06/11/2024, Trần Tấn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,6772 gam ma túy loại Ketamine tại nhà số A, đường L, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân. Bị cáo là người có đủ năng lực nhận biết việc cất giấu ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý mua và cất giấu 1,6772 gam ma túy loại Ketamine để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện. Vì vậy, Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, đe dọa xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và sự phát triển bình thường của con người, gây tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự nơi bị cáo thực hiện tội phạm, nguyên nhân phát sinh các tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân. Do đó cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo được hưởng là tình tiết “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đề nghị áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là có căn cứ, tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, giáo dục và cải tạo bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, nghề nghiệp và thu nhập không ổn định do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[7] Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định loại Ketamine; 02 (hai) đoạn ống hút nhựa sử dụng vào việc phạm tội; trả lại cho bị cáo IPHONE màu xám kèm thẻ sim 0907832233, xe mô tô biển số 65D1-193.88 nhãn hiệu HONDA loại xe SH150D, 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1000 đồng (một nghìn đồng) không liên quan đến hành vi phạm tội.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Trần Tấn T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự
Xử phạt: Bị cáo Trần Tấn T 02 năm tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 06/11/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ Luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Một gói niêm phong số: 368/KL-KTHS ngày 14 tháng 11 năm 2024 của Phòng K1 Công an thành phố C, khối lượng mẫu vật hoàn lại sau giám định M1: 1,1748 gam và M2: 0,1026 gam, 02 (hai) đoạn ống hút nhựa.
Tịch thu sung công: 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1000 đồng (một nghìn đồng).
Trả lại cho bà Nguyễn Hồng C 01 (một) điện thoại di động hiệu IPHONE màu xám. Trả lại cho Trần Tấn T: 01 (một) xe mô tô biển số 65D1-193.88 nhãn hiệu HONDA, loại xe SH150D, xe có một kính chiếu hậu bên trái, màu sơn hiện tại màu vàng, có số khung: 10A09F004553; số máy: 1004749KTGE1, xe đã qua sử dụng; 01 esim thuê bao số 0907832233. Đề nghị Công ty D1 thu hồi esim thuê bao số: 0919999313 do Trần Tấn T đăng ký chủ thuê bao.
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí toà án bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo, người có quyền và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9. Thời hiệu thi hành án được qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đinh Thanh Thảo |
Bản án số 16/2025/HSST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B T, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 16/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B T, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ Luật Hình sự
