TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 16/2025/HSPT Ngày: 24-02-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc -------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hiền
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Ngân
Bà Trương Thị Lệ Thu
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh Giang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Đình Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa phúc thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 140/2024/TLPT- HS ngày 30 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Bùi Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2024/HS-ST, ngày 04/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Hà (nay là huyện T), tỉnh Hà Tĩnh.
* Bị cáo kháng cáo: Họ và tên: Bùi Văn T; tên gọi khác: không; Giới tính: Nam, sinh ngày: 06/8/1961 tại xã H, huyện L (nay là huyện T), tỉnh Hà Tĩnh, nơi đăng ký HKTT: thôn T, xã H, huyện L (nay là huyện T), tỉnh Hà Tĩnh, Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 7/10, họ và tên cha: Bùi Văn N (đã chết), họ và tên mẹ: Nguyễn Thị B (đã chết), anh, chị, em: Có 07 người; bị cáo là con thứ ba trong gia đình, vợ: Trần Thị H; sinh năm: 1960; nghề nghiệp: Làm ruộng, hiện trú tại thôn T, xã H, huyện L (nay là huyện T), tỉnh Hà Tĩnh, con: có 04 người, con lớn nhất sinh năm 1979, con nhỏ nhất sinh năm 1992, 01 con chết năm 2010.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 19/12/2003, bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xử phạt Bùi Văn T 02 năm tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” (Điều 202 Bộ luật Hình sự) theo Bản án sơ thẩm số 119/HSST, đã chấp hành xong bản án, đương nhiên xóa án tích;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh” từ ngày 15/10/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Bà Trần Thị H1, sinh năm: 1955, nơi thường trú: Thôn T, xã H, huyện L (nay là huyện T), tỉnh Hà Tĩnh (đã chết);
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Trần Mạnh H2, sinh năm: 1985, nghề nghiệp: Lao động tự do, nơi thường trú: Thôn E, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk - vắng mặt
Trong vụ án này còn có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng không liên quan đến nội dung kháng cáo của bị cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ ngày 30/6/2024, Bùi Văn T, trú tại thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda vision, biển kiểm soát 38L1-090.76 có dung tích xilanh 109,5 cm³ (xe của chị Bùi Thị N1 là con gái của T) chở theo bà Trần Thị H1, sinh năm 1955 trú cùng thôn, đi từ nhà T đến nhà ông Nguyễn Văn T1 ở thôn Đ, xã H, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh để ăn giỗ. Sau khi ăn uống xong đến khoảng 19 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô trên chở bà H1 về nhà, trên đường về khi đi đến Km18+380 đường Quốc lộ 281 đoạn qua thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh, lúc này Bùi Văn T điều khiển xe mô tô nhưng đã không làm chủ tốc độ dẫn đến xe mô tô đi ra khỏi mặt đường, đi lên lề đường đất bên phải theo chiều đi rồi đâm vào cột mốc gây tai nạn giao thông. Hậu quả: bà Trần Thị H1 bị tử vong, Bùi Văn T bị thương, xe mô tô bị hư hỏng.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường lập hồi 19 giờ 40 phút ngày 30/6/2024 tại Km18 + 380 Quốc lộ B đoạn đi quan thôn T, xã H, huyện L thể hiện:
Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông thuộc Km18+380 Quốc lộ B đoạn qua thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh. Đường được rải thảm nhựa bằng phẳng có vạch kẻ đường phân chia thành hai phần đường xe chạy đoạn đường xảy ra tai nạn nằm ngoài khu vực dân cư, không có hệ thống đèn chiếu sáng, đoạn đường cong, tầm nhìn không bị che khuất, không có hệ thống biển báo hiệu, đường rộng 7,5m.
Quá trình khám nghiệm hiện trường, lấy tâm đường Quốc lộ 281 làm điểm chuẩn, lấy cột mốc H3/18 làm điểm mốc. Trên hiện trường có các dấu vết sau:
Số A: Cọc tiêu bên phải theo hướng từ xã T đi xã H, bị đâm gãy trên bề mặt và xung quanh có để lại mãnh vỡ kích thước vùng mãnh vỡ 0,5 x 0,5m; tâm vùng mãnh vỡ cách tâm đường làm chuẩn là 4,1m và cách chột mốc H3/18 theo phương pháp đo vuông góc là 80m theo hướng về C.
Số 2: Tử thi nằm sát mép đường bên phải theo hướng từ xã T đi C trong tình trạng nằm ngửa, đầu tử thi quay về hướng C, hai chân duỗi thẳng quay về hướng xã T. Tử thi có chiều dài 1,45m, gót chân bên phải tử thi cách tâm đường làm chuẩn là 4,1m, đỉnh đầu tử thi cách tâm đường làm chuẩn là 3,7m và cách tâm vùng mãnh vỡ số (1) theo phương pháp đo vuông góc là 14,1m theo hướng về C.
Số 3: Vết máu có kích thước 0,9 x 0,6m nằm trên phần đường bên phải Quốc lộ B, tâm vết máu cách tâm đường làm chuẩn là 3,2 m và cách đỉnh đầu tử thi số (2) là 3,6 m theo phương pháp đo vuông góc hướng về C.
Số 4: Vết máu có kích thước 0,65 x 0,3 m nằm trên phần đường bên phải đường Quốc lộ 281 theo hướng từ xã T đi C tâm vết máu cách tâm đường làm chuẩn là 0,8m và cách tâm vết máu số (3) theo phương pháp đo vuông góc là 0,4m theo hướng về C.
Số 5: Vết cày mặt đường kích thước 25,7 x 0,02m nằm trên phần đường bên phải đường Quốc lộ 281 theo hướng từ xã T đi C, điểm đầu vết cày cách tâm đường chuẩn là 2,2m và cách tâm vết máu số (3) theo phương pháp đo vuông góc là 0,6m theo hướng từ xã T, điểm cuối vết cày nằm ngay tại vị trí chân chống giữa bên trái xe mô tô biển kiểm soát 38L1-090.76
Số 6: Xe mô tô biển kiểm soát 38L1-090.76 nằm ngã nghiêng bên trái trên phần đường bên phải theo hướng từ xã T đi C, đầu xe quay về hướng C; đuôi xe quay về hướng xã T, tâm bánh sau cách tâm đường làm chuẩn là 0,15m; tâm bánh trước cách tâm đường làm chuẩn 0,8m.
Số 7: Dấu vết có dính tóc và máu trên cọc tiêu kích thước 0,1 x 0,02 x 0,4m; Cách gót chân trái tử thi số (2) theo phương pháp đo vuông góc là 2,8m theo hướng về xã T.
Tại biên bản khám phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông lập hồi 11 giờ 00 phút ngày 01/7/2024 đối với xe mô tô biển kiểm soát 38L1-090.76 sau khi tai nạn giao thông xảy ra trên phương tiện để lại các dấu vết mới sau:
Ốp nhựa thân xe phía bên trái, bên phải bị bung rời khỏi phương tiện; Hệ thống đèn phía sau bị gãy vỡ, bung rời khỏi phương tiện; Cánh ướm bên phải gãy vỡ, bung rời hoàn toàn khỏi phương tiện; Ốp bàn để chân phía trước bị móp méo, bung rời khỏi phương tiện; Gương chiếu hậu bên phải bị xô lệch theo chiều hướng từ sau ra trước, bề mặt có dấu vết trượt xước, mài mòn, bám dính chất màu đỏ, kích thước (12x5)cm. T dấu vết cao cách mặt đất 117cm.
Ốp nhựa bảo vệ đèn chiếu sáng phía trước, tay lái phía trước có dấu vết trượt xước, mài mòn, bám dính nhiều đất đá, kích thước (8,5x10)cm. T dấu vết cao cách mặt đất 105cm; Góc bên trái cung trước chắn bùn trước có dấu vết trượt xước, mài mòn, kích thước (5x3,5)cm. T dấu vết cao cách mặt đất 51cm.
Ốp nhựa bảo vệ đèn xi-nhan bên trái bị nứt vỡ, bề mặt có dấu vết trượt xước, mài mòn; Cánh ướm bên trái có dấu vết trượt xước, mài mòn, kích thước (19x6)cm. T dấu vết cao cách mặt đất 50cm; Giá để chân phía sau bên trái bung rời hoàn toàn khỏi phương tiện; Mặt phía dưới chân chống nghiêng của xe có dấu vết trượt xước, kích thước (2x1)cm. T dấu vết cao cách mặt đất 22cm; Mặt ngoài hộp số, bộ phận máy phía bên trái có dấu vết trượt xước, mài mòn; Mặt bên phải bánh xe có dấu vết đứt cao su, gãy kim loại, chiều hướng từ ngoài vào tâm, cùng chiều tịnh tiến của xe, kích thước (7x5)cm. Điểm đầu dấu vết cách chân van theo chiều tịnh tiến của xe 20cm.
Góc phía dưới ốp nhựa bảo vệ đèn xi-nhan phía trước bên phải có dấu vết trượt xước bám dính chất màu đỏ, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước (2,5x0,7)cm. T dấu vết cao cách mặt đất 68cm;
Mặt phía trước còi xe có dấu vết trượt xước, bám dính chất màu đỏ, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước (3x0,8)cm. T dấu vết cao cách mặt đất 63cm. Mặt dưới ốc định vị giảm xóc phía trước bên phải, mặt dưới giảm xóc phía trước bên phải có dấu vết trượt xước, bám dính bụi đá màu trắng, chiều hướng từ trước ra sau, kích thước (6,5x3)cm. T dấu vết cao cách mặt đất 22cm. Hệ thống kỹ thuật của phương tiện bị hư hỏng, không đảm bảo an toàn
Quá trình điều tra Cơ quan điều tra Công an huyện L đã thu giữ các đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh, biển kiểm soát 38L1-090.76 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 000602, ngày cấp 09/02/2015, cấp cho xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu xanh, biển kiểm soát 38L1-090.76, tên chủ xe Bùi Thị N1.
Xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên ngày 16/9/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã trả lại những vật chứng trên cho chủ sở hữu hợp pháp.
Tại thông báo kết quả định giá tài sản số 10/TB-TĐGĐ ngày 07/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện L thông báo: Giá trị thiệt hại và chi phí khắc phục đối với xe mô tô biển kiểm soát 38L1-090.76 là: 6.195.500 đồng (Sáu triệu một trăm chín mươi lăm ngàn năm trăm đồng);
Tại kết luận giám định số 908/KL- KTHS ngày 30/6/2024 của phòng K Công an tỉnh H kết luận: Nguyên nhân chết của bà Trần Thị H1 là đa chấn thương.
Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 269/KLTTCT- TTPY-GĐYK ngày 13/9/2024 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh H kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Bùi Văn T do tai nạn giao thông xảy ra ngày 30/6/2024 gây ra là 69%.
Tại kết luận giám định tình trạng sức khỏe số 317/KLGÐSK-TTPY-GĐYK ngày 16/10/2024 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh H kết luận: Căn cứ kết quả giám định tình trạng sức khỏe của ông Bùi Văn T tại thời điểm giám định có mắc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) giai đoạn III; Bệnh tắc nghẽn phổi mãn tính, khi lên cơn hen cấp tính gây khó thở đột ngột thì có thể mất hoặc rối loạn khả năng nhận thức và không điều khiển được hành vi; Thời điểm xảy ra vụ tai nạn giao thông vào tối ngày 30/6/2024 ông Bùi Văn T có lên cơn hen làm ảnh hưởng tới quá trình tham gia giao thông hay không thì Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh H không xác định được.
Kết quả xét nghiệm sinh hóa máu lúc 22 giờ 31 phút, ngày 30/6/2024 đối với bà Trần Thị H1 định lượng Ethanol (cồn) trong máu là 5.98 mmol/l (giá trị tham chiếu < 10.9 mmol/l); Kết quả xét nghiệm sinh hóa máu lúc 22 giờ 15 phút, ngày 30/6/2024 đối với Bùi Văn T định lượng E (cồn) trong máu là 130.8 mg/dl (giá trị tham chiếu < 50 mg/dl).
Tại kết luận giám định dấu vết cơ học số 944/KL-KTHS ngày 12/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận:
Các dấu vết trượt xước, mài mòn tại ốp nhựa bảo vệ đèn chiếu sáng phía trước, ốp nhựa tay lái phía trước, ốp nhựa bảo vệ đèn xi nhan trái, cánh ướm bên trái, mặt dưới chân chống nghiêng, mặt ngoài hộp số, bộ phận máy bên trái xe mô tô mang biển kiểm soát 38L1-090.76 hình thành do va chạm với mặt đường khi xe ngã nghiêng sang trái và trượt trên mặt đường.
Dấu vết trược xước, gãy vỡ, bề mặt bám dính bụi đá màu trắng, đỏ tại cánh ướm bên phải, ốp bàn để chân phía trước bên phải; mặt dưới ốc định vị giảm xóc phía trước bên phải; mặt trước còi xe; mặt bên phải bánh trước xe mô tô mang biển kiểm soát 38L1-090.76 hình thành do va chạm với cọc tiêu tại hiện trường (đánh số kí tự (1) trong biên bản khám nghiệm hiện trường).
Tại công văn số 2023/SGTVT-QLVT2 của Sở G cung cấp: Qua tra cứu trên Cổng thông tin nội bộ Giấy phép lái xe của Cục Đ cho thấy: Bùi Văn T sinh 06/8/1961 có số CCCD [...] thường trú tại xã H, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh chưa được Sở G1 cấp Giấy phép lái xe cơ giới đường bộ.
Với hành vi nêu trên, tại bản án sơ thẩm số 35/2024/HS-ST, ngày 04/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Hà (nay là huyện T), tỉnh Hà Tĩnh xử:
Căn cứ vào Điều 45; 46; 260; 268; 269; 326, 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự:
+ Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
+ Xử phạt Bùi Văn T 12 (mười hai) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
Ngày 17/12/2024, bị cáo Bùi Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng: điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn T. Sửa Bản án sơ thẩm số 35/2024/HS-ST, ngày 04/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Hà (nay là huyện T), tỉnh Hà Tĩnh, xử phạt bị cáo Bùi Văn T 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Về án phí Hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Bùi Văn T trong hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm nên có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 30/6/2024, Bùi Văn T không có giấy phép lái xe theo quy định, có nồng độ cồn trong máu được xác định là 130.8 mg/dl điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38L1-090.76 chở theo bà Trần Thị H1, đi trên tuyến đường Q theo hướng từ thôn Đ về thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh. Khi đến Km18+380 Quốc lộ B thuộc thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh do không làm chủ tốc độ dẫn đến xe mô tô do Bùi Văn T điều khiển đã đi ra khỏi mặt đường, đi lên lề đường đất bên phải theo chiều đi rồi đâm vào cột mốc gây tai nạn giao thông. Hậu quả: bà Trần Thị H1 bị tử vong, riêng Bùi Văn T bị thương, xe mô tô bị hư hỏng.
Do đó, Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Bùi Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
[2.2] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại về tính mạng và tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo điều khiển xe mô tô khi không có giấy phép lái xe theo quy định và có nồng độ cồn trong máu được xác định là 130.8 mg/dl, không làm chủ tốc độ dẫn đến xe mô tô do bị cáo điều khiển đã đâm vào cột mốc gây tai nạn giao thông. Hậu quả làm bà Trần Thị H1 ngồi phía sau bị tử vong, còn bản thân bị cáo bị thương, xe mô tô bị hư hỏng. Việc bị hại tử vong để lại hậu quả nặng nề cho gia đình nạn nhân mà không gì có thể bù đắp nổi. Vì vậy, mức hình phạt 12 tháng tù mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.
Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm bị cáo Bùi Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực khắc phục hậu quả do mình gây ra, tự nguyện bồi thường thiệt hại. Mặt khác, bị cáo bị mắc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính cấp độ III (COPD), khi lên cơn hen có thể dẫn đến gây khó thở đột ngột, có thể mất hoặc rối loạn khả năng nhận thức và không điều khiển được hành vi, bị cáo có thời gian tham gia chiến trường Campuchia từ 10/2/1979 đến 06/6/1985 có xác nhận của người làm chứng và Ban Chỉ huy Quân sự xã H, gia đình có ông can là Liệt sỹ Bùi Đức T2 chiến sỹ tự vệ đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc năm 1931 và đơn trình bày hoàn cảnh có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp tài liệu, chứng cứ mới là đơn trình bày hoàn cảnh của bị cáo có xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện chân phải của bị cáo hiện nay đã bị cắt bỏ, sức khoẻ yếu, vợ bị bệnh không có khả năng lao động, một người con của bị cáo đã mất và hai người con khác cũng bị bệnh hiểm nghèo. Ngoài ra, chính quyền địa phương xã H có đơn xin cho bị cáo được hưởng án treo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.
Từ những phân tích trên. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Bùi Văn T được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, sau khi tai nạn bị cáo bị thương tật 69%, cụt chân phải, hiện không có khả năng lao động, không tự phục vụ bản thân và bản thân bị cáo có nơi cư trú ổn định. Vì vậy, xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần cải biện pháp chấp hành án, cho bị cáo được hưởng án treo, tạo điều kiện để bị cáo được cải tạo giáo dục tại địa phương tại nơi cư trú, nhằm thể hiện sự khoan hồng và tính nhân đạo của pháp luật đối với bị cáo.
[3]. Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Bùi Văn T được chấp nhận nên không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn T. Sửa Bản án sơ thẩm số 35/2024/HS-ST, ngày 04-12-2024 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Hà (nay là huyện T), tỉnh Hà Tĩnh.
Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt: Xử phạt Bùi Văn T 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Bùi Văn T cho UBND xã H, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Nếu người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
- Về án phí: Bị cáo Bùi Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Hiền |
Bản án số 16/2025/HSPT ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về hình sự phúc thẩm (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Số bản án: 16/2025/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn T phạm tội "“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
