TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU Bản án số: 16/2025/HSPT Ngày: 20/02/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Bắc
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Hiếu
Ông Hoàng Trí Thức
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Đài Trang - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia
phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 13, 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 165/2024/TLPT-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Hà Vũ Quốc B do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 129/2024/HS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Bị cáo có kháng cáo: Hà Vũ Quốc B, sinh ngày 16 tháng 11 năm 2007 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Thường trú: Tổ A, ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Hà Văn N và bà Vũ Thị Á; Là con út trong gia đình có 02 anh em; Chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại. (có mặt)
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo là cha ruột: ông Hà Văn N, sinh năm 1978; Địa chỉ: ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
* Người bào chữa cho bị cáo:
- Bà Lê Thị T, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh B. (có mặt)
- Ông Trần Công T1 – Luật sư Công ty L1, Đoàn Luật sư Thành phố H. (có mặt)
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại và người làm chứng nhưng không kháng cáo, không liên quan đến nội dung kháng cáo nên Toà án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13h00' ngày 26/4/2024, Hà Vũ Quốc B sử dụng điện thoại di động iPhone X đăng nhập vào ứng dụng mạng xã hội Facebook của bạn là Trịnh Nguyễn Trường V (sinh ngày 01/9/2007; thường trú: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) phát hiện trong nhóm chát có tên “Đừng bỏ cuộc” trên ứng dụng Messenger có một đoạn video clip thể hiện nội dung ông Phan Thành N1 (sinh năm 1989; thường trú: Ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) là giáo viên phụ trách đội của trường Trung học cơ sở N3 thuộc xã P, huyện L, có những hành vi không đúng chuẩn mực đối với cháu Bùi Ngọc Yến N2 (sinh ngày 17/4/2010; thường trú: Ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) là học sinh của trường tại phòng nghỉ của ông N1 ở lầu 3 Trường Trung học cơ sở N3. B liền tải đoạn video clip trên về điện thoại di động của B và tìm lấy thông tin tài khoản Facebook của ông N1. Ban đầu, B sử dụng tài khoản Facebook tên “Hà Vũ Quốc B” gửi đoạn video clip trên cho ông N1 để xác minh thông tin. Sau khi xác nhận người trong đoạn video clip là ông N1, B đổi tên tài khoản Facebook thành “Chào Mào” nhắn tin đe dọa ông N1 sẽ đăng video clip lên mạng xã hội, thông báo cho nhà trường, Công an, gia đình của cháu N2 biết và yêu cầu ông N1 phải chuyển cho B số tiền 1.000.000 đồng vào tài khoản số 0975633817 tại M. Ông N1 đồng ý hẹn đến 17h00' cùng ngày giải quyết. Đến khoảng 16h00' cùng ngày, B tiếp tục nhắn tin đe dọa, yêu cầu ông N1 chuyển số tiền 2.000.000 đồng vào tài khoản trên. Ông N1 không đồng ý, nói sẽ báo Công an. Để đe doạ, buộc ông N1 phải chuyển tiền, B đăng đoạn video clip trên lên mạng xã hội rồi nhanh chóng gỡ bài đăng sau đó. Đến khoảng 18h30' cùng ngày, ông N1 đến Công an xã P, huyện L trình báo vụ việc trên.
Tại Cơ quan điều tra, Hà Vũ Quốc B đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.
Mở rộng điều tra xác định, ông N1 và cháu N2 có mối quan hệ tình cảm yêu thương với nhau. Khoảng 10h45' ngày 26/4/2024, ông N1 đến phòng nghỉ tại lầu 3 của Trường Trung học cơ sở N3, nhìn thấy cháu N2 đang nằm trên giường và bạn cùng lớp là cháu Vy Khánh L (sinh ngày 18/6/2010; thường trú: ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) ngồi dưới nền gạch. Ông N1 đi đến ngồi trên giường bên trái nơi cháu N2 đang nằm nói chuyện với cháu N2 và cháu L. Trong lúc nói chuyện, ông N1 đưa tay trái qua hông phải của cháu N2 rồi cúi đầu xuống hôn 02 cái lên trên trán cháu N2. Cháu L đã dùng điện thoại di động của mình quay lại sự việc trên rồi gửi đoạn video clip cho bạn cùng lớp là cháu Nguyễn Hoàng H (sinh ngày 13/01/2010; thường trú: Áp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) xem. Sau đó, đoạn clip được phát tán trên các hội nhóm. Ngoài ra, còn có một số lần ông N1 đặt tay sờ lên bụng của cháu N2.
* Bản Kết luận giám định số 3329/KL-KTHS ngày 01/7/2024 của Phân viện Khoa học hình sự - Bộ C tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định:
+ Tập tin video ký hiệu A không bị cắt, ghép, chỉnh sửa về nội dung.
+ Phục hồi, trích xuất được dữ liệu tin nhắn (Zalo, F, SMS, iMessenger) trong khoảng thời gian từ 12 giờ 00 phút ngày 26/4/2024 đến 18 giờ 00 phút ngày 26/4/2024 trong mẫu vật ký hiệu A2. Lưu dữ liệu trích xuất ra 01 (một) thiết bị lưu trữ DVD.
* Vật chứng vụ án:
- Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Phan Thành N1 01 điện thoại di động Samsung màu xanh, cho cháu Nguyễn Hoàng H 01 điện thoại di động iPhone 7 Plus màu vàng, cho cháu V1 Khánh Ly 01 điện thoại di động Redmi màu xanh, cho cháu Phan Nguyễn Chí T2 01 điện thoại di động iPhone 7 Plus màu vàng, cho cháu Trịnh Nguyễn Trường V 01 điện thoại di động iPhone 6 Plus màu hồng đã qua sử dụng.
- Chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền (nay là huyện L) bảo quản chờ xử lý 01 điện thoại di động iPhone X màu đen đã qua sử dụng thu giữ của Hà Vũ Quốc B.
- Lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB hiệu Kingston 16Gb màu đen và 01 DVD chứa dữ liệu giám định.
2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 129/2024/HSST ngày 30 tháng 8 năm 2024,
Tòa án nhân dân huyện Long Điền (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã quyết định: Tuyên bố Hà Vũ Quốc B phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 101, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hà Vũ Quốc B 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
3. Ngày 10/9/2024, bị cáo Hà Vũ Quốc B kháng cáo xin được hưởng án treo.
4. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo, khai nhận hành vi phạm tội.
5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án:
Về tố tụng:
Bị cáo Hà Vũ Quốc B có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung:
Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Hà Vũ Quốc B phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”, xử phạt bị cáo 1 (Mười hai) tháng tù là phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm chứng cứ hay tài liệu nào mới để xem xét cho kháng cáo của bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
6. Tranh luận và đối đáp tại phiên toà:
6.1. Người bào chữa trình bày lời bào chữa cho bị cáo:
6.1.1. Luật sư Trần Công T1:
Bị cáo phạm tội khi chưa thành niên, đến nay vẫn chưa thành niên. Bản thân bị cáo không phải nguyên nhân chính phát đoạn video sự việc, vì trước khi bị cáo đăng tải đoạn video trên mạng xã hội thì đoạn video này đã được phát tán trên các hội nhóm, được phản ánh đến Ban Giám hiệu nhà trường. Nội dung đoạn video ghi nhận đúng sự thật về sai phạm trong quan hệ với học trò của giáo viên là bị hại trong vụ án. Nguyên nhân phát tán video, tạo nên dư luận là một học sinh lớp 9 nhà trường tống tiền thầy giáo trước khi bị cáo phát tán đoạn video, tống tiền bị hại chỉ trong thời gian 02 tiếng, khi nhà trường và bị hại đã biết trước đó. Bị hại thường cho tiền các học sinh trước đó. Bị cáo với tâm lý tuổi chưa thành niên suy luận tương tự để xin tiền bị hại. Nội dung tin nhắn giữa bị cáo - bị hại qua hội thoại khoảng 80 tin nhắn: bị hại thể hiện thoả hiệp mong bị cáo im lặng, chứ bị cáo không thể hiện rõ ý thức đe doạ, tống tiền.
Đề nghị Hội đồng xét xử nội dung vụ án, các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo chưa thành niên có nhân thân tốt: nghỉ học, học nghề sửa xe ô tô ổn định, về quê để đăng ký nghĩa vụ quân sự, mong muốn đóng góp cho quê hương, thực hiện hành vi phạm tội do bộc phát, gây nên hậu quả không quá nghiêm trọng. Nay bị cáo thực sự nhận thức lỗi lầm, mong muốn sửa sai, đã đăng ký học nghề tại Trường Cao đẳng N4, đóng tiền nhưng chưa học vì chờ kết quả xét xử, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại; bị cáo tự nguyện xoá video sau khi đăng tải trên mạng xã hội, hậu quả thiệt hại trong vụ án do bị hại sai phạm, chứ không do bị cáo phát tán đoạn video. Đề nghị Hội đồng xét xử vận dụng các quy định tại Luật Tư pháp người chưa thành niên, chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
6.1.2. Bà Lê Thị T:
Thống nhất với trình bày của Luật sư T1. Mức hình phạt Toà án cấp sơ thẩm tuyên quá nghiêm khắc, vì bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, nhiều tình tiết giảm nhẹ.
Tại phiên toà sơ thẩm, bà có đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn”, “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, theo quy định tại các điểm h, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo nhưng cấp sơ thẩm không chấp nhận, không áp dụng. Trong vụ án, các khách thể: sức khoẻ, tinh thần, tài sản đều chưa bị xâm phạm nghiêm trọng, bị cáo chưa lấy được 2.000.000 đồng của bị hại.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
6.2. Bị cáo và đại diện hợp pháp nhất trí với lời trình bày của người bào chữa, không bào chữa và tranh luận bổ sung, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được ở nhà, tiếp tục đi học.
6.3. Đại diện Viện kiểm sát đối đáp, khẳng định người bào chữa đề nghị áp
dụng áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn”, “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, theo quy định tại các điểm h, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo là không có căn cứ. Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận đề nghị này, không áp dụng các tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo là đúng pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm.
7. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, nói lời sau cùng thể hiện thái độ ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo ở nhà, được tiếp tục đi học.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định của pháp luật về chủ thể, hình thức và nội dung đơn kháng cáo, là kháng cáo hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tội danh và Điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và lời khai trong quá trình điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Ngày 26/4/2024, tại ấp H, xã P, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Hà Vũ Quốc B sử dụng tài khoản “Hà Vũ Quốc B” đăng nhập vào mạng xã hội Facebook, thấy trong nhóm chát “Đừng bỏ cuộc” trên ứng dụng Messenger có một đoạn video clip thể hiện nội dung nhạy cảm của ông Phan Thành N1 và một học sinh nữ, đã tải đoạn video clip này về điện thoại của mình, sau đó dùng đoạn video clip trên đe doạ, uy hiếp tinh thần nhằm chiếm đoạt 2.000.000 đồng của ông Phan Thành N1.
Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Hà Vũ Quốc B về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3]. Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật Hình sự bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi nhắn tin đe dọa, uy hiếp bị hại chuyển 2.000.000 đồng vào tài khoản của mình nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, để đảm bảo tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung, đồng thời nêu cao tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có ông nội và ông ngoại là người có công với Cách mạng, bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo, theo quy định tại theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Vũ Quốc B 12 (Mười hai) tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo bổ sung chứng cứ, tình tiết mới gồm: giấy đăng ký nghĩa vụ quân sự, giấy tờ đăng ký học tại Trường Cao đẳng nghề tỉnh N4, giấy tờ thể hiện mẹ bị cáo bị bệnh tiểu đường, làm căn cứ xem xét cho kháng cáo của bị cáo. Qua xem xét chứng cứ này, cùng với việc bị cáo là người chưa thành niên: phạm tội khi đạt 16 tuổi 05 tháng 10 ngày và đến nay hơn 17 tuổi 03 tháng, chưa thành niên, phạm tội lần đầu, sau sự việc đã thực sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có ông nội và ông ngoại là người có công với Cách mạng, bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình, không cần tập trung cải tạo trong môi trường giam giữ; nên Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách phù hợp theo quy định của pháp luật, cũng đủ sức cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
[5] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hà Vũ Quốc B về việc xin được hưởng án treo; sửa quyết định của bản án sơ thẩm số 129/2024/HS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về hình phạt, như sau:
Tuyên bố: Bị cáo Hà Vũ Quốc B phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 50, Điều 91, Điều 101, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hà Vũ Quốc B 12 (Mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (20/02/2025).
Giao bị cáo Hà Vũ Quốc B cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết
định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 129/2024/HS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Hà Vũ Quốc B không phải nộp.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (20/02/2025).
(Đã giải thích về chế định án treo)
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Minh Bắc |
Bản án số 16/2025/HSPT ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU về hình sự - cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 16/2025/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà Vũ Quốc B - Cưỡng đoạt tài sản
