Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHỔ YÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 16/2025/HS-ST

Ngày 28/02/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kao Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Hải

2. Bà Nguyễn Thị Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tham gia phiên toà: Ông Trần Lê Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Hữu T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01/02/1988 tại Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: TDP Trung, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Nguyễn Xuân T1, con bà: Nguyễn Thị L; Có vợ: Lò Thị N, sinh năm 1990 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 104/2013/HSST ngày 27/12/2013 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã xử phạt Nguyễn Hữu T 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng về tội “Đánh bạc”, bị cáo đã chấp hành xong Bản án trên và được xóa án tích theo quy định;

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam được áp biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt).

2. Đỗ Văn L1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 20/01/1985 tại Vĩnh Phúc; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn N, xã L, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; Chỗ ở hiện nay: TDP T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Đỗ Văn S, con bà: Nguyễn Thị H; Có vợ là: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1990; Vợ chồng có 03 con chung, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam được áp biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã L, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. (Có mặt).

3. Trần Văn C; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 18/7/1991 tại Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: xóm A, xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Trần Văn H1, con bà: Hoàng Thị L2; Có vợ là: Nguyễn Thị T3, sinh năm 1994 và có 03 con chung, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam được áp biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt).

4. Nguyễn Phi P; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 24/12/1980 tại Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: TDP T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: tự do; Con ông: Nguyễn Văn D, con bà: Nguyễn Thị Chấn H2; Có vợ là: Nguyễn Thị D1, sinh năm 1982 và có 01 con sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam được áp biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt).

- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1957; Nơi cư trú: TDP T, phường T, thành phố P, Thái Nguyên. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 15/6/2024, tại gách xép nhà thuê của Đỗ Văn L1 (sinh năm 1985) ở tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, tổ công tác của phòng C1 Công an tỉnh T 05 đối tượng gồm: Đỗ Văn L1, Trần Văn C, Nguyễn Phi P, Nguyễn Hữu T và Ngô Văn H3 (sinh năm 1995, trú tại tổ dân phố T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) đang đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền. Vật chứng thu giữ: 01 chiếu nhựa có màu xanh, hoa văn màu vàng trắng; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 6.400.000 đồng tiền mặt (niêm phong trong phong bì ký hiệu T); 01 chiếc điện thoại đi dộng nhãn hiệu Nokia-1280 màu xanh của Nguyễn Phi P; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh của Trần Văn C; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A22 màu đen của Nguyễn Hữu T; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu đen của Ngô Văn H3 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen của Đỗ Văn L1. Theo các đối tượng khai: Số đồ vật và tiền mặt thu giữ trên các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc. Sau đó, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa các đối tượng cùng vật chứng thu giữ về Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T để giải quyết. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã chuyển toàn bộ hồ sơ, vật chứng của vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản Kết luận giám định số: 763/KL-KTHS ngày 27/6/2024 của Phòng C1 Công an tỉnh T kết luận: “Số tiền gửi giám định trong phong bì ký hiệu T là thật".

Quá trình điều tra, Đỗ Văn L1, Trần Văn C, Ngô Văn H3, Nguyễn Phi P và Nguyễn Hữu T khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 15/6/2024, Trần Văn C đến chỗ ở của Đỗ Văn L1 tại tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên chơi, uống nước. Trong quá trình ngồi uống nước thì C hỏi L1 còn có ai khác không thì rủ đến để đánh bạc. Sau đó L1 đã lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen, bên trong có lắp sim số 0963.113.185 gọi cho Ngô Văn H3 đến nhà L1 để đánh bạc thì Hòa đồng Ý. H3 gọi điện rủ thêm Nguyễn Phi P và Nguyễn Hữu T đến tham gia đánh bạc. Sau khoảng 20 phút thì H3 và P đến nhà L1. Lúc này, C đi mua một bộ bài lá tú lơ khơ loại 52 quân bài rồi cả 04 người lên gác xép của nhà L1 để đánh bạc. L1 trải chiếc chiếu nhựa màu xanh, hòa văn màu vàng trắng rồi cùng các đối tượng đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức “Liêng”. Đến khoảng 13 giờ 20 phút thì có thêm Nguyễn Hữu T đến cùng tham gia đánh bạc với L1, C, H3 và P. Quá trình đánh bạc, L1 khai sử dụng số tiền 1.000.000 đồng, H3 khai sử dụng số tiền 950.000 đồng, C khai sử dụng số tiền 1.950.000 đồng, P khai sử dụng số tiền 1.850.000 đồng, T khai sử dụng số tiền 650.000 đồng để tham gia đánh bạc. Về hình thức đánh “Liêng” được các đối tượng tham gia đánh bạc quy ước như sau: Bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài (từ A đến K) được trộn đều và chia cho mỗi người chơi 3 quân bài. Sau khi chia bài thì mỗi người tự xem bài và tính điểm của mình, trong đó ba quân cùng số thì gọi là “sáp”, ba quân số liên tiếp nhau gọi là “liêng”, ba quân bài đầu người (J, Q, K) gọi là “ảnh”. Khi xét bài thì xét lần lượt từ “sáp” đến “liêng” và đến “ảnh”. Nếu bài không ai có “sáp”, “liêng”, “ảnh” thì mọi người tính điểm, ai được điểm cao nhất (9 điểm) thì sẽ thắng (quy ước điểm 9=19=29). Trong mỗi ván bạc nếu những người chơi có số điểm bằng nhau thì sẽ đọ về chất, R lớn nhất sau đó đến Cơ, T5, B. Mỗi ván bạc các đối tượng góp 20.000 đồng vào giữa chiếu bạc gọi là “gà”, sau đó mọi người có thể hô “tố” từ một đến 3 lần với số tiền từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng, nếu không ai theo thì sẽ hạ bài và mất số tiền đã vào “gà” cho người “tố”, ai theo thì sẽ vào “gà” tiếp sau đó lật bài, bài của ai cao nhất sẽ được hết tiền “gà” cùng số tiền đã tố của người khác và người đó tiếp tục chia ván bài mới. Các đối tượng đánh bạc đến 13 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng công an phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên. Lời khai nhận của L1, C, H3, T, P phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, tổng số tiền Đỗ Văn L1, Trần Văn C, Ngô Văn H3, Nguyễn Phi P và Nguyễn Hữu T sử dụng vào việc đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” là 6.400.000 đồng (bằng chữ: Sáu triệu bốn trăm nghìn đồng)

* Vật chứng của vụ án:

  • 01 chiếu nhựa màu xanh, hoa văn màu vàng trắng; 01 phong bì niêm phong ký hiệu “B” bên trong chứa bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài; 01 phong bì niêm phong ký hiệu “Đ1” bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu xanh, đã qua sử dụng, số seri 353667053J13215, bên trong lắp sim viettel số 0961.000.xxx thu giữ của Nguyễn Phi P; 01 phong bì niêm phong ký hiệu “Đ2” bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen, đã qua sử dụng, số Imei 1: 350320526375496, Imei2: 350320527499238, bên trong lắp sim số 0389.172.857 thu giữ Trần Văn C; 01 phong bì niêm phong ký hiệu “Đ3” bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A22, màu đen, đã qua sử dụng, số Imei 1: 358475775699103, Imei2: 359111835699108, bên trong lắp sim số 0937.420.559 và sim số 0355.219.388 thu giữ của Nguyễn Hữu T; 01 phong bì niêm phong ký hiệu “Đ5” bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen, đã qua sử dụng, số Imei 1: 866376041355527, Imei2: 866376041355527, bên trong có lắp sim số 0963.113.185 thu giữ của Đỗ Văn L1 và 6.400.000 đồng tiền Ngân hàng N1 được chuyển đến kho vật chứng và tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.
  • 01 phong bì niêm phong ký hiệu “ĐT4” bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen, đã qua sử dụng, số Imei 1: 353317082187724, bên trong lắp sim số 0967.287.813 thu giữ của Ngô Văn H3 được tách theo vụ án Ngô Văn H3 “Đánh bạc” xảy ra ngày 15/6/2024 tại TDP T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

Do có hành vi nêu trên, nên tại Cáo trạng số: 17/CT-VKSPY ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Đỗ Văn L1, Trần Văn C, Nguyễn Phi P, Nguyễn Hữu T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng số: 17/CT-VKSPY ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đỗ Văn L1, Trần Văn C, Nguyễn Phi P, Nguyễn Hữu T phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Về hình phạt:

    2.1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hữu T;

    Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T mức án từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

    2.2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đỗ Văn L1, Trần Văn C, Nguyễn Phi P.

    Đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Văn L1, Trần Văn C mỗi bị cáo mức án từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Phi P mức án từ 08 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

  3. Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên không áp dụng phạt bổ sung với các bị cáo;
  4. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 6.400.000 đồng (bằng chữ: Sáu triệu bốn trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1;
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếu nhựa màu xanh, hoa văn màu vàng trắng; 01 phong bì niêm phong ký hiệu “B” bên trong chứa bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài.
    • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 phong bì niêm phong ký hiệu “Đ3” bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A22, màu đen, đã qua sử dụng, số Imei 1: 358475775699103, Imei2: 359111835699108, bên trong lắp sim số 0937.420.559 và sim số 0355.219.388 thu giữ của Nguyễn Hữu T; 01 phong bì niêm phong ký hiệu “Đ5” bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen, đã qua sử dụng, số Imei 1: 866376041355527, Imei2: 866376041355527, bên trong có lắp sim số 0963.113.185 thu giữ của Đỗ Văn L1; 01 phong bì niêm phong ký hiệu “Đ1” bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu xanh, đã qua sử dụng, số seri 353667053J13215, bên trong lắp sim viettel số 0961.000.xxx thu giữ của Nguyễn Phi P.
    • - Trả lại 01 phong bì niêm phong ký hiệu “Đ2” bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen, đã qua sử dụng, số Imei 1: 350320526375496, Imei2: 350320527499238, bên trong lắp sim số 0389.172.857 thu giữ Trần Văn C, tuy nhiên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • - Đối với 01 phong bì niêm phong ký hiệu “ĐT4” bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen, đã qua sử dụng, số Imei 1: 353317082187724, bên trong lắp sim số 0967.287.813 thu giữ của Ngô Văn H3 được tách theo vụ án Ngô Văn H3 “Đánh bạc” xảy ra ngày 15/6/2024 tại TDP T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên
  5. Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị áp dụng Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với các bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Trong phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt đề nghị áp dụng.

Nói lời sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xét xem cho được hưởng mức án thấp nhất, được cải tạo tại địa phương để thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập hợp lệ trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản thu giữ vật chứng và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 11 giờ 00 phút đến 13 giờ 30 phút ngày 15/6/2024 tại gác xép tầng 2, nhà thuê của Đỗ Văn L1 thuộc TDP T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Đỗ Văn L1, Nguyễn Hữu T, Trần Văn C, Nguyễn Phi P và Ngô Văn H3 đã có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh Liêng được thua bằng tiền ngân hàng N1 thì bị phát hiện xử lý. Tổng số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc là 6.400.000đ (bằng chữ: Sáu triệu bốn trăm nghìn đồng)

Hành vi, ý thức của các bị cáo Đỗ Văn L1, Nguyễn Hữu T, Trần Văn C và Nguyễn Phi P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng số: 17/CT-VKSPY ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.

Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

“Điều 321. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ..., thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”

[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội ít nghiêm trọng, xâm phạm đến trật tự công cộng do Nhà nước quản lý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội là do các bị cáo hám lời, muốn kiếm tiền bằng con đường bất chính nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như trên.

[4]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy:

4.1. Về nhân thân: Các bị cáo Đỗ Văn L1, Trần Văn C, Nguyễn Phi P không có tiền án, tiền sự là người có nhân thân tốt.

Đối với bị cáo Nguyễn Hữu T, năm 2013 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm nên bị cáo là người có nhân thân cần xem xét khi quyết định hình phạt.

4.2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Hữu T, Đỗ Văn L1, Trần Văn C, Nguyễn Phi P đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó các bị cáo đều được hưởng chung 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, các bị cáo Đỗ Văn L1, Trần Văn C, Nguyễn Phi P phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ cho các bị cáo L1, C, P được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

4.3. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

4.4. Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo Nguyễn Hữu T, Đỗ Văn L1, Trần Văn C, Nguyễn Phi P cố ý cùng thực hiện một tội phạm nên là đồng phạm theo quy định tại Điều 17 Bộ luật Hình sự, nhưng là đồng phạm giản đơn, bởi hành vi của các bị cáo là bột phát, không có sự câu kết chặt chẽ với nhau giữa những người thực hiện tội phạm. Tuy nhiên, để đảm bảo phân hóa trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Trần Văn C và Đỗ Văn L1 có vai trò như nhau, C khởi sướng và cùng L1 chuẩn bị địa điểm và công cụ để đánh bạc. Bị cáo Nguyễn Phi P có vai trò thứ yếu khi cùng các bị cáo đánh bạc từ đầu, đối với bị cáo Nguyễn Hữu T có vai trò thứ yếu ít hơn các bị cáo C, L1, P do bị cáo vào chơi sau các bị cáo, khi vừa chơi thì bị phát hiện bắt quả tang.

[5]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Các bị cáo Đỗ Văn L1, Trần Văn C, Nguyễn Phi P là người không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà đều thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, các bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo được cải tạo tại địa phương không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn, xã hội tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận lời thỉnh cầu của các bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên áp dụng tại điểm đ khoản 1 Điều 3, Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số: 02/2018/NQ -HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết: 01/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị quyết: 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự ngày 23 tháng 3 năm 2022 cho các bị cáo L1, C, P được cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ điều kiện giáo dục các bị cáo thành công dân tốt và có ích cho xã hội.

Đối với bị cáo Nguyễn Hữu T, mặc dù bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tuy nhiên trước đó vào năm 2013 bị cáo đã bị kết án về tội danh “Đánh bạc”, đối chiếu với quy định của pháp luật về án treo, bị cáo không đủ điều kiện để được hưởng án treo, bởi lẽ bị cáo chỉ có duy nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục và phòng ngừa đối với bị cáo

X quan điểm về việc giải quyết vụ án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp được chấp nhận.

[6]. Về hình phạt bổ sung:

Tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:

“3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

Xét thấy, các bị cáo Đỗ Văn L1, Trần Văn C, Nguyễn Phi P, Nguyễn Hữu T là người không có thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo.

[7]. Về biện pháp tư pháp:

Đối với số tiền 6.400.000 đồng (bằng chữ: Sáu triệu bốn trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1. Quá trình điều tra xác định là tiền các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần xử lý tịch thu sung ngân sách Nhà nước

Đối với 01 chiếu nhựa màu xanh, hoa văn màu vàng trắng; 01 phong bì niêm phong ký hiệu “B” bên trong chứa bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài. Quá trình điều tra xác định những vật chứng này là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy

Đối với 01 phong bì niêm phong ký hiệu “Đ3” bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A22, màu đen, đã qua sử dụng, số Imei 1: 358475775699103, Imei2: 359111835699108, bên trong lắp sim số 0937.420.559 và sim số 0355.219.388 thu giữ của Nguyễn Hữu T; 01 phong bì niêm phong ký hiệu “Đ5” bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen, đã qua sử dụng, số Imei 1: 866376041355527, Imei2: 866376041355527, bên trong có lắp sim số 0963.113.185 thu giữ của Đỗ Văn L1; 01 phong bì niêm phong ký hiệu “Đ1” bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu xanh, đã qua sử dụng, số seri 353667053J13215, bên trong lắp sim viettel số 0961.000.xxx thu giữ của Nguyễn Phi P. Quá trình điều tra xác định là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần xử lý tịch thu sung ngân sách Nhà nước

Đối với 01 phong bì niêm phong ký hiệu “Đ2” bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen, đã qua sử dụng, số Imei 1: 350320526375496, Imei2: 350320527499238, bên trong lắp sim số 0389.172.857 thu giữ Trần Văn C, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo C không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo quản lý sử dụng. Tuy nhiên do bị cáo còn phải thực hiện nghĩa vụ về án phí nên cần tạm giữ chiếc điện thoại trên để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 phong bì niêm phong ký hiệu “ĐT4” bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen, đã qua sử dụng, số Imei 1: 353317082187724, bên trong lắp sim số 0967.287.813 thu giữ của Ngô Văn H3 được tách theo vụ án Ngô Văn H3 “Đánh bạc” xảy ra ngày 15/6/2024 tại TDP T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Xét thấy việc tách vật chứng để xử lý trong vụ án khác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P là phù hợp được chấp nhận.

[8]. Về chi phí tố tụng và quyền kháng cáo: Các bị cáo Đỗ Văn L1, Trần Văn C, Nguyễn Phi P, Nguyễn Hữu T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định

[9]. Các vấn đề khác trong vụ án: Trong vụ án này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã khởi tố bị can đối với Ngô Văn H3 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự và nhiều lần triệu tập H3 đến làm việc nhưng không được do H3 không có mặt tại nơi cư trú và không xác định được H3 đang ở đâu, làm gì. Ngày 13/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã ra Quyết định tách hồ sơ vụ án hình sự đối với hành vi “Đánh bạc” của Ngô Văn H3 để tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định là phù hợp được chấp nhận.

Ngoài ra, trong vụ án này, chị Nguyễn Thị T2 là chủ căn nhà có gác xép tầng 2 nơi các đối tượng dùng để đánh bạc trái phép. Tuy nhiên, chị T2 không biết các bị cáo đánh bạc được thua bằng tiền tại căn gác xép và cũng không được hưởng lợi gì từ hành vi vi phạm pháp luật trên nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý trách nhiệm hình sự đối với chị T2 là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17, Điều 46, Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hữu T;

Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17, Điều 46, Điều 47; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Đỗ Văn L1, Trần Văn C, Nguyễn Phi P;

Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 123 (Đối với bị cáo Nguyễn Hữu T), Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số: 02/2018/NQ - HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;

Căn cứ Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 23/03/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị quyết: 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T, Đỗ Văn L1, Trần Văn C, Nguyễn Phi P phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Về hình phạt:
    1. Hình phạt chính:

      2.1.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

      Căn cứ Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự: Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Hữu T trong thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án

      2.1.2. Xử phạt bị cáo Trần Văn C 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

      2.1.3. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn L1 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

      2.1.4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi P 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

      Giao bị cáo Nguyễn Phi P cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Giao bị cáo Trần Văn C cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Giao bị cáo Đỗ Văn L1 cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách;

      Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

      Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bán án đã cho hưởng án treo

    2. Về phạt bổ sung: Không áp dụng phạt bổ sung với các bị cáo.
    3. Về biện pháp tư pháp:
      • - Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếu nhựa màu xanh, hoa văn màu vàng trắng; 01 phong bì niêm phong ký hiệu “B” bên trong chứa bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài.
      • - Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 6.400.000 đồng (bằng chữ: Sáu triệu bốn trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1.
      • - Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 phong bì niêm phong ký hiệu “Đ3” bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A22, màu đen, đã qua sử dụng, số Imei 1: 358475775699103, Imei2: 359111835699108, bên trong lắp sim số 0937.420.559 và sim số 0355.219.388 thu giữ của Nguyễn Hữu T; 01 phong bì niêm phong ký hiệu “Đ5” bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen, đã qua sử dụng, số Imei 1: 866376041355527, Imei2: 866376041355527, bên trong có lắp sim số 0963.113.185 thu giữ của Đỗ Văn L1; 01 phong bì niêm phong ký hiệu “Đ1” bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu xanh, đã qua sử dụng, số seri 353667053J13215, bên trong lắp sim viettel số 0961.000.xxx thu giữ của Nguyễn Phi P.
      • - Trả lại 01 phong bì niêm phong ký hiệu “Đ2” bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen, đã qua sử dụng, số Imei 1: 350320526375496, Imei2: 350320527499238, bên trong lắp sim số 0389.172.857 thu giữ Trần Văn C. Tuy nhiên do bị cáo còn phải thực hiện nghĩa vụ về án phí nên cần tạm giữ chiếc điện thoại trên để đảm bảo thi hành án.

        (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố P với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 20/01/2025 và Ủ nhiêm chỉ số 12 ngày 20 tháng 01 năm 2025)

      • - Đối với 01 phong bì niêm phong ký hiệu “ĐT4” bên trong chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen, đã qua sử dụng, số Imei 1: 353317082187724, bên trong lắp sim số 0967.287.813 thu giữ của Ngô Văn H3 được tách theo vụ án Ngô Văn H3 “Đánh bạc” xảy ra ngày 15/6/2024 tại TDP T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
    4. Về chi phí tố tụng: Các bị cáo Nguyễn Hữu T, Đỗ Văn L1, Trần Văn C, Nguyễn Phi P mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định vào ngân sách Nhà nước.
    5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Hữu T, Đỗ Văn L1, Trần Văn C, Nguyễn Phi P có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND TP. Phổ Yên;
  • - Cơ quan CSĐT - CATP Phổ Yên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - THAHS;
  • - Công an TP. Phổ Yên;
  • - Chi cục THADS TP. Phổ Yên;
  • - UBND phường Đông Cao;
  • - UBND xã Thành Công;
  • - UBND xã Liên Châu, H.Yên Lạc, T.Vĩnh Phúc;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Kao Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 16/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger