Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ GIA MẬP

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 16/2025/HS-ST

Ngày 27-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Ly

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hùng

Bà Phùng Thị Kim Yến

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kim Đức – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Hằng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Điểu Bóp, sinh năm 1986, tại Bình Phước; Nơi cư trú: thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Xtiêng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Điểu D và bà Điểu Thị M; bị cáo chưa có vợ, con.

Nhân thân: Năm 2012 phạm tội “Cố ý gây thương tích”, bị Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xử phạt 07 năm tù theo bản án số 56/2012/HSST ngày 16/5/2012; đến ngày 22/02/2017 chấp hành xong.

Tiền án: Ngày 22/5/2022 phạm tội “Trộm cắp tài sản”, bị Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xử phạt 09 tháng tù theo bản án số 38/2022/HS-ST ngày 07/9/2022. Đến ngày 25/02/2023 chấp hành xong (chưa xóa án tích);

Tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 09/12/2024 cho đến nay “có mặt”.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Văn H – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B “có mặt”

Bị hại: Bà Thị P, sinh năm 1974, nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước “có mặt"

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Nguyễn Sỹ T – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B “có mặt”

Người phiên dịch cho bị hại: Bà Thị L – Cán bộ đài truyền thanh xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước “có mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Điểu Bóp và bà Thị P, sinh năm 1974 (trú tại thôn A, xã Đ, huyện B), quen biết nhau từ trước. Bóp biết hằng ngày P thường đi làm sớm nên nhà không có ai trông coi. Do đó, B nảy sinh đến nhà P trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài.

Thực hiện ý định trên khoảng 07 giờ 00 ngày 04/12/2024 B đi bộ đến nhà P. Khi đến nơi B thấy nhà P đóng cửa không có ai ở nhà. Lúc này, B đi ra phía sau nhà thì phát hiện 01 con dao bị hư hỏng cán. Bóp nhặt và sử dụng con dao này cắt phá 01 lỗ gần chốt trên cửa sau nhà, sau đó cho tay vào mở chốt cửa rồi đi vào trong nhà. Khi ra đến phòng khách Bóp thấy 01 tivi 32inch hiệu AKINO màu đen gắn trên tường và 01 đầu thu hình hiệu VINASAT đặt trên giá đỡ gắn trên tường (tivi và đầu thu hình nối với nhau bằng 01 dây cáp truyền tín hiệu). Bóp dùng hai tay ôm, giật tivi ra khỏi khung treo, làm vỡ mặt sau của tivi và dính lại trên khung treo. Sau đó, B lấy tivi, đầu thu và dây cáp truyền tín hiệu trên đem đi cất giấu tại khu vực vườn điều thuộc xã P, huyện B.

Đến chiều ngày 08/12/2024 Bóp mang tài sản trên đi sang huyện B để tiêu thụ thị bị Công an huyện B phát phát hiện, bắt giữ. Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện B, Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Về phía bị hại Thị P sau khi phát hiện tài sản bị mất đã làm đơn trình báo Công an huyện B.

Kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐGTS ngày 13/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B xác định giá trị tại sản Điểu Bóp chiếm đoạt của Thị P tại thời điểm ngày 04/12/2024 là 250.000 đồng.

Bản cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 24/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Điểu B về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Thị P yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 3.500.000 đồng, nên cần buộc bị cáo phải bồi thường cho bà P.

- Về xử lý vật chứng: trả lại cho bà Thị P 01 tivi 32inch hiệu AKINO màu đen; 01 đầu thu hình hiệu VINASAT; 01 dây cáp truyền tín hiệu và 01 khung treo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Điểu B đã khai nhận bản thân bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bà Thị P gồm 01 tivi 32inch hiệu AKINO màu đen; 01 đầu thu hình hiệu VINASAT; 01 dây cáp truyền tín hiệu và 01 khung treo theo đúng nội dung Cáo trạng đã truy tố. Nay bị cáo đã nhận biết hành vi của mình là trái pháp luật, xin Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo một mức án thấp để bị cáo có cơ hội sửa sai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Xét thấy các chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như: Biên bản khám nghiệm hiện trường; kết luận định giá tài sản; lời khai của bị hại phù hợp về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, vật chứng của vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Do muốn có tiền tiêu xài vào mục đích cá nhân nên sáng ngày 04/12/2024 Điểu B đã có hành vi lén lút trộm cắp gồm 01 tivi 32inch hiệu AKINO màu đen; 01 đầu thu hình hiệu VINASAT và 01 dây cáp truyền tín hiệu của nhà bà Thị P có giá trị 250.000 đồng.

Lần thực hiện hành vi trộm cắp này, mặc dù giá trị tài sản trộm cắp chưa đủ 2.000.000 đồng, nhưng do bản thân bị cáo Đ Bóp có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 38/2022/HS-ST ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, chưa được xóa án tích mà bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên hành vi phạm tội của bị cáo lần này đã đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, về tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, do mong muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cố ý thực hiện việc phạm tội.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra, nhằm giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi quyết định mức hình phạt cho bị cáo cần xem xét quá trình điều tra truy tố xét xử bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù và người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo mức hình phạt thấp trong khoản đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đồng thời người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng bổ sung cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 và tình tiết “phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 là không đúng quy định pháp luật nên không được chấp nhận.

[4] Xét về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 triệu đồng”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có công việc, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Thị Phát yêu cầu bị caó Điểu B bồi thường cho bà số tiền 3.500.000 đồng do tài sản bị trộm cắp hư hỏng, bị cáo đồng ý bồi thường nhưng chưa thực hiện, nên cần buộc bị cáo phải bồi thường cho bà P số tiền này.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 tivi 32inch hiệu AKINO màu đen; 01 đầu thu hình hiệu VINASAT; 01 dây cáp truyền tín hiệu và 01 khung treo là tài sản của bà Thị P, nên cần trả lại cho bà P.

Đối với 01 con dao bị cáo dùng để cắt cửa vào trộm cắp tài sản, bị cáo đã vứt không xác định được vị trí nên không thu giữ được.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ Điều 106, Điều 260, Điều 329, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  1. Tuyên bố bị cáo Điểu B phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  2. Xử phạt bị cáo Điểu B 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 09/12/2024.

    Quyết định tạm giam bị cáo Điểu B để đảm bảo thi hành án.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại bà Thị P số tiền 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng).
  4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    Trả lại cho bà Thị P 01 tivi 32inch hiệu AKINO màu đen; 01 đầu thu hình hiệu VINASAT; 01 dây cáp truyền tín hiệu và 01 khung treo.

  5. Về án phí: Bị cáo Điểu B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - Công an, VKSND huyện Bù Gia Mập;
  • - Chi cục THADS huyện Bù Gia Mập;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hải Ly

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 16/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger