|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2025/HS-ST Ngày 26/5/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Đình Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Huyền và ông Hà Thanh Oai
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Sơn - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Đậu Xuân Hà và ông Trần Đức Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2025/TLST-HS, ngày 28 tháng 3 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
VŨ ĐỨC T. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Ngày, tháng, năm sinh:
06 tháng 4 năm 1968, tại: Tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Tổ F, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Hiện nay là tổ dân phố F, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do.Trình độ học vấn: 5/10. Họ và tên cha: Vũ Văn Đ, sinh năm 1925. (đã chết) Họ và tên mẹ: Phạm Thị S, sinh năm 1937. (đã chết). Vợ: Đặng Thị H, sinh năm 1972, trú tại: Tổ F, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Hiện nay là tổ dân phố F, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2001.Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Không. Bị cáo tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hoàng Thị M, sinh năm 1959, trú tại tổ H, thị trấn B, huyện C. Vắng mặt có lý do.
- Chị Mã Thị Thu C, sinh năm 1990, trú tại tổ B, thị trấn B, huyện C. Hiện nay là tổ dân phố C, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
2
Ngày 27/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiếp nhận tin báo về tội phạm của quần chúng nhân dân với nội dung: Vũ Đức T cho nhiều người vay tiền với lãi suất cao vượt mức cho phép của pháp luật, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương.
Sau khi tiếp nhận nguồn tin, Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra, xác minh thông tin những người vay để tiến hành triệu tập lấy lời khai. Qua làm việc, một số người vay khai nhận được vay tiền của Vũ Đức T với lãi suất cao hơn quy định của pháp luật. Cùng thời điểm đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra C1 tổ công tác tiến hành kiểm tra, làm việc với Vũ Đức T. Qua làm việc, T thừa nhận được cho người khác vay tiền và thu lãi suất cao hơn quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh tiến hành khám xét khẩn cấp đối với Vũ Đức T. Qua khám xét phát hiện và tạm giữ của Vũ Đức T một số sổ sách, giấy tờ nghi liên quan đến hoạt động cho vay.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định được hành vi “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” của Vũ Đức T như sau:
* Đối với khoản vay của bà Hoàng Thị M;
- - Lần 1: Ngày 20/01/2021, T cho bà M vay số tiền 45.000.000đ (bốn mươi năm triệu đồng) và thỏa thuận lãi suất là 3.000đ/1.000.000đ/ngày tương đương lãi suất là 108%/năm, khi vay bà M thế chấp 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng số AO 378594 mang tên bà Hoàng Thị M và ông Lâm Văn N (chồng bà M). Việc vay tiền được T viết trong sổ ghi nợ của T rồi cho bà M ký xác nhận. Từ ngày 20/01/2021 đến 20/3/2021 là 02 (hai) tháng, tiền lãi theo thỏa thuận là 9.000.000đ (chín triệu đồng) nhưng bà M chưa trả cho T.
- - Lần 2: Ngày 04/02/2021, T cho bà M vay số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng), thỏa thuận lãi suất là 3.000đ/1.000.000đ/ngày tương đương lãi suất là 108%/năm. Việc vay tiền được T viết trong sổ ghi nợ của T rồi cho bà M ký xác nhận. Từ ngày 04/2/2021 đến ngày 20/3/2021 là 45 (bốn mươi năm) ngày, tiền lãi theo thỏa thuận là 6.750.000đ (sáu triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng), nhưng bà M chưa trả cho T.
Do bà M không trả được tiền lãi của hai khoản vay trên nên ngày 20/3/2021, T và bà M thỏa thuận cộng số tiền gốc và tiền lãi của hai khoản vay trên thành một khoản vay mới, theo đó bà M vay của T tổng số tiền 110.750.000đ (một trăm mười triệu, bảy trăm năm mươi nghìn), thỏa thuận lãi suất là 3.000đ/1.000.000đ/ngày tương đương lãi suất là 108%/năm, hàng tháng bà M phải trả cho T số tiền lãi là 9.900.000đ (chín triệu, chín trăm nghìn đồng). Sau đó, T viết nội dung vay tiền trên trong sổ ghi nợ của T rồi cho bà M ký xác nhận.
Đến ngày 20/4/2021, bà M không trả được tiền lãi nên T và bà M thỏa thuận chốt tổng số tiền nợ gốc và lãi của khoản vay trên là 120.650.000đ (một
3
trăm hai mươi triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng), nội dung thỏa thuận trên T cũng viết vào sổ ghi nợ của T và cho bà M ký xác nhận.
Đến ngày 04/9/2021, bà M tiếp tục không trả được tiền lãi nên T và bà M thỏa thuận cộng số tiền lãi của 04 (bốn) tháng (tính từ ngày 29/4/2021 đến ngày 29/8/2021) là 39.600.000đ (ba mươi chín triệu, sáu trăm nghìn đồng), với số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 04/9/2021 là 120.650.000đ (một trăm hai mươi triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng), thành số tiền 160.160.000đ (một trăm sáu mươi triệu, một trăm sáu mươi nghìn đồng), T làm tròn thành 160.000.000đ (một trăm sáu mươi triệu đồng).
Từ ngày 04/9/2021 đến ngày 04/5/2022 là 7 (bảy) tháng 20 (hai mươi) ngày, tương ứng với lãi suất theo thỏa thuận là 75.900.000đ (bảy mươi năm triệu, chín trăm nghìn đồng), T làm tròn là 75.000.000đ (bảy mươi năm triệu đồng) tiền lãi. Giữa T và bà M thỏa thuận cộng số tiền lãi nêu trên với số tiền 160.000.000đ (một trăm sáu mươi triệu đồng) là tiền bà M nợ T tính đến ngày 04/9/2021, thành tổng số tiền 235.000.000đ (hai trăm ba mươi năm triệu đồng).
Ngày 25/5/2022, T cho bà M vay số tiền 15.000.000đ (mười năm triệu đồng), không tính lãi suất. Cùng ngày, T và bà M chốt tổng số tiền bà M nợ T là 250.000.000đ (hai trăm năm mươi triệu đồng). Sau khi chốt số tiền trên, T và bà M thỏa thuận không tính lãi suất và thỏa thuận số tiền trên là tiền T mua đất với bà M. Theo thỏa thuận, đến ngày 29/9/2022 nếu bà M trả cho T số tiền 250.000.000đ (hai trăm năm mươi triệu đồng) thì T sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng số AO 378594 cho bà M, trường hợp bà M không trả được số tiền trên thì bà M phải chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho T. Nội dung trên được T viết trong “Giấy biên nhận nhận tiền chuyển nhượng đất vườn” và cho bà M ký tên xác nhận.
Ngày 29/5/2022, do không trả được số tiền 250.000.000đ (hai trăm năm mươi triệu đồng) như đã thỏa thuận nên bà M đã lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vườn số CR 011375 mang tên bà Hoàng Thị M cho T và lấy lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng số AO 378594. Sau đó, T thay bà M viết giấy cam kết chuyển nhượng đất vườn mang tên bà M cho T để thanh toán khoản tiền vay như đã thỏa thuận ngày 25/5/2022 và hẹn đến ngày 30/5/2022 bà M sẽ ký kết hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho T. Tuy nhiên, khi hai bên làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì phát hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vườn số CR 011375 đã hết hạn nên T đã đưa lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho bà M để bà M làm thủ tục gia hạn quyền sử dụng đất, sau đó sẽ tiến hành chuyển nhượng quyền sử dụng đất như thỏa thuận nhưng đến nay chưa thực hiện được.
Đối với khoản vay ngày 20/01/2021 và khoản vay ngày 04/02/2021, bà M đều không trả được tiền lãi nên T đã cộng tiền gốc và tiền lãi của cả hai khoản vay trên thành khoản vay ngày 20/3/2021 với tổng số tiền cho vay là
4
110.750.000đ (một trăm mười triệu, bảy trăm năm mươi nghìn), thỏa thuận lãi suất là 3.000đ/1.000.000đ/ngày tương đương lãi suất là 108%/năm, hàng tháng bà M phải trả cho T số tiền lãi là 9.900.000đ (chín triệu, chín trăm nghìn đồng). Từ ngày 20/3/2021 đến ngày 25/5/2022, T tính tiền nợ gốc và lãi của bà M là 235.000.000đ (hai trăm ba mươi năm triệu đồng). Bản chất của khoản vay này chỉ có 95.000.000đ (chín mươi năm triệu đồng) tiền gốc, còn lại 140.000.000đ (một trăm bốn mươi triệu đồng tiền lãi). Theo quy định của pháp luật, từ ngày 20/3/2021 đến ngày 25/5/2022 là 14 (mười bốn) tháng, 05 (năm) ngày, số tiền lãi T được phép thu đối với khoản vay trên là 22.426.940đ (hai mươi hai triệu, bốn trăm hai mươi sáu nghìn, chín trăm bốn mươi đồng).
Đối với khoản vay này, thực tế T chưa thu được tiền lãi của bà M. Tuy nhiên, giữa T và bà M có thỏa thuận lãi suất của khoản vay là 3.000đ/1.000.000đ/ngày, tương đương lãi suất là 108%/năm, đã vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thuộc trường hợp “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Tại khoản 5, Điều 7 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn:
“5. Trường hợp người cho vay lãi nặng nhằm thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên, nhưng vì nguyên nhân ngoài ý muốn mà người cho vay chưa thu lợi bất chính hoặc đã thu lợi bất chính dưới 30.000.000 đồng, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt tương ứng với tổng số tiền thu lợi bất chính mà họ nhằm đạt được. Việc xác định số tiền thu lợi bất chính được thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 6 Nghị quyết này...”
Khoản 1, Điều 6 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP hướng dẫn:
“1. Trường hợp cho vay lãi nặng đã hết thời hạn vay theo thỏa thuận thì số tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự bao gồm tiền lãi và các khoản thu trái pháp luật khác mà người vay phải trả cho người cho vay sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự trong cả kỳ hạn vay”.
Như vậy, số tiền thu lợi bất chính T hướng đến đối với khoản vay trên là: 140.000.000 đồng (tiền lãi hướng đến) – 22.426.940 đồng (tiền lãi theo quy định của khoản vay) = 117.573.060 đồng.
* Đối với khoản vay của chị Mã Thị Thu C. Khoảng tháng 4 năm 2023, T cho chị C vay số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng), thỏa thuận lãi suất 3000đ/1.000.000đ/ngày, tương đương với lãi suất 108%/năm. Hàng tháng, chị C phải trả cho T số tiền lãi là 900.000đ/tháng (không kể tháng có bao nhiêu ngày), việc vay tiền giữa T và chị C không lập hợp đồng vay. Chị C trả lãi cho thịnh bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng, cụ thể:
- - Ngày 03/5/2023, chị C chuyển khoản cho T số tiền 900.000đ (chín trăm nghìn đồng) là tiền lãi của tháng 5/2023.
5
- - Ngày 10/6/2023, chị C chuyển khoản cho T số tiền 800.000đ (tám trăm nghìn đồng) là tiền lãi của tháng 6/2023 (do không đủ tiền nên chị C trả thiếu 100.000 đồng).
- - Ngày 05/01/2024, chị C chuyển khoản cho T số tiền 2.700.000đ (hai triệu, bảy trăm nghìn đồng) là tiền lãi của các tháng 7, 8, 9/2023.
Như vậy, tổng số tiền lãi T đã thu của Mã Thị Thu C là 4.400.000đ (bốn triệu, bốn trăm nghìn đồng). Theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự, trong 05 (năm) tháng thì khoản vay 10.000.000đ (mười triệu đồng) chỉ được thu tiền lãi tối đa là 833.333đ (tám trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng). Số tiền T thu lời bất chính đối với khoản vay trên là 3.566.667đ (ba triệu, năm trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng). Khoản vay nêu trên chưa bị xử phạt vi phạm hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.
Từ tháng 10/2023 đến thời điểm Cơ quan điều tra phát hiện (tháng 8/2024), chị C không trả lãi và cũng chưa trả tiền gốc cho T. Tuy nhiên, giữa chị C và T không có thỏa thuận khác về việc trả lãi của các tháng trên. Căn cứ kết quả kiểm tra điện thoại của T phát hiện có nội dung tin nhắn giữa C với T trao đổi về việc C xin khất nợ lãi. Do đó, có căn cứ để xác định số tiền lãi T hướng đến là: 10 (mười) tháng x 900.000 đồng/tháng = 9.000.000 đồng.
Đối với khoản vay này, thực tế từ tháng 10/2023 đến tháng 8/2024, T chưa thu được tiền lãi của chị C. Tuy nhiên, giữa T và chị C có thỏa thuận lãi suất của khoản vay là 3.000đ/1.000.000đ/ngày, tương đương lãi suất là 108%/năm, đã vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thuộc trường hợp “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Tại khoản 5, Điều 7 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn:
“5. Trường hợp người cho vay lãi nặng nhằm thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên, nhưng vì nguyên nhân ngoài ý muốn mà người cho vay chưa thu lợi bất chính hoặc đã thu lợi bất chính dưới 30.000.000 đồng, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt tương ứng với tổng số tiền thu lợi bất chính mà họ nhằm đạt được. Việc xác định số tiền thu lợi bất chính được thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 6 Nghị quyết này...”
Khoản 2, Điều 6 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP hướng dẫn:
“2. Trường hợp cho vay lãi nặng chưa hết thời hạn vay theo thỏa thuận mà bị phát hiện thì số tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự bao gồm tiền lãi và các khoản thu trái pháp luật khác mà người vay phải trả cho người cho vay sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự tính đến thời điểm cơ quan có thẩm quyền phát hiện và ngăn chặn”.
Theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự, trong 10 (mười) tháng thì khoản vay 10.000.000đ (mười triệu đồng) chỉ được thu tiền lãi tối đa là 1.666.667đ (một
6
triệu, sáu trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng). Như vậy, số tiền thu lợi bất chính T hướng đến của khoản vay này là: 9.000.000 đồng (tiền lãi hướng tới) - 1.666.667 đồng (tiền lãi theo quy định) = 7.333.333 đồng.
Như vậy, số tiền thu lợi bất chính để xem xét xử lý Vũ Đức T đối với khoản vay của Mã Thị Thu C là: 3.566.667 đồng (số tiền đã thu lợi bất chính) + 7.333.333 đồng (số tiền thu lợi bất chính hướng đến) = 10.900.000 đồng.
Tổng số tiền thu lợi bất chính để xem xét xử lý hình sự đối với Vũ Đức T trong vụ án này là: 117.573.060 đồng (số tiền thu lợi bất chính đối với khoản vay của bà M mà T hướng đến) + 10.900.000 đồng (số tiền thu lợi bất chính và hướng đến thu lợi bất chính đối với khoản vay của chị C) = 128.473.060đ (một trăm hai mươi tám triệu, bốn trăm bảy mươi ba nghìn, không trăm sáu mươi đồng).
Ngày 10/9/2024, Cơ quan điều tra đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định chữ viết, chữ ký của Hoàng Thị M và Vũ Đức T đối với:
- - 01 (một) tài liệu có tiêu đề "Giấy biên nhận, nhận tiền chuyển nhượng đất vườn" đề ngày 25/5/2022 gồm một trang có chữ viết, chữ số, dưới mục "Người nhận tiền" có chữ ký đề tên Hoàng Thị M; (ký hiệu A1)
- - 01 (một) quyển sổ khổ giấy A4, bìa có tiêu đề "Ghi nợ xấu" bằng chữ viết tay được đánh số trang từ 01 đến 167, trong đó cần giám định:
- + Tài liệu tại trang số 75 có tiêu đề "GIẤY VAY TIỀN" đề ngày 04/02/2021 có chữ viết tay, chữ số, dưới mục "Người vay tiền" có chữ ký đề tên Hoàng Thị M. (ký hiệu A2)
- + Tài liệu tại trang 76 có tiêu đề "GIẤY VAY TIỀN" đề ngày 20/01/2021 có chữ viết tay, chữ số, dưới mục "Người vay tiền" có chữ ký đề tên Hoàng Thị M. (ký hiệu A3)
- + Tài liệu tại trang 77 có tiêu đề "GIẤY VAY TIỀN" đề ngày 20/3/2021 có chữ viết tay, chữ số, dưới mục "Người vay tiền" có chữ ký đề tên Hoàng Thị M. (ký hiệu A4)
- + Tài liệu tại trang 84 không có tiêu đề, có chữ viết, chữ số, dưới mục "Người nhận nợ" có chữ ký đề tên Hoàng Thị M. (ký hiệu A5)
- + Tài liệu tại trang 88 có tiêu đề "GIẤY CAM KẾT" đề ngày 29/5/2022, dưới mục "Người nhận lại sổ đỏ" có chữ ký đề tên Hoàng Thị M. (ký hiệu A6)
Tại Bản kết luận giám định số: 313/KL-KTHS ngày 24/9/2024 của Phòng K, Công an tỉnh B kết luận như sau:
“1. Chữ ký dưới các mục Người nhận tiền" Người vay tiền,Người nhận nợ" Người nhận lại sổ đỏ"trên các mẫu cần giám định (ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5, A6) so với chữ ký trên mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2) là do cùng một người ký ra.
2. Dòng chữ viết Hoàng Thị M"dưới các mục Người nhận tiền," Người vay tiền,Người nhận nợ"trên mẫu cần giám định (ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5) so với chữ viết Hoàng Thị M"trên mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2) là do cùng một người viết ra.
7
3. Dòng chữ viết Hoàng Thị M"dưới mục Người nhận lại sổ đỏ trên mẫu cần giám định (ký hiệu A6) so với chữ viết Hoàng Thị M"trên mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2) không phải do cùng một người viết ra. ”(BL: 39-40)
Tại Bản kết luận giám định số: 320/KL-KTHS ngày 30/9/2024 của Phòng K, Công an tỉnh B kết luận:
“Chữ viết trên mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5, A6, A7 (trừ chữ ký, chữ viết Hoàng Thị M"dưới mục Người nhận tiền," Người vay tiền," người nhận nợ," người nhận lại sổ đỏ) so với chữ viết của ông Vũ Đức T trên các mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2) là do cùng một người viết ra.”
Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS-P1 ngày 27/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn truy tố Vũ Đức T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.
Điều 201 Bộ luật hình sự có nội dung:
“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhấtđịnh trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 ... thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội mà thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Đức T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 2, Điều 201; điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15, Điều 57; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Đức T từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng. Giao bị cáo cho UBND thị trấn B, huyện C giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án.
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 201 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng; cấm bị cáo hoạt động cho vay, cầm đồ trong thời hạn từ 02 năm đến 03 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 468 của Bộ luật Dân sự và Nghị quyết số: 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20-12-2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
8
Buộc bị cáo phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 833.333 đồng là tiền lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu của Mã Thị Thu C.
Buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền cụ thể như sau:
Bà Hoàng Thị M phải nộp số tiền 95.000.000đ (Chín mươi năm triệu đồng).
Chị Mã Thị Thu C phải nộp số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị HĐXX xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo Vũ Đức T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở khẳng định:
Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2021 đến tháng 8/2024 bị cáo Vũ Đức T cho bà Hoàng Thị M vay số tiền 95.000.000đ (chín mươi năm triệu đồng) và cho chị Mã Thị Thu C vay số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng), với lãi suất 3.000 đồng/triệu/ngày, tương đương với mức lãi suất 108%/năm, cao gấp 5,4 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Đối với khoản vay của bà Hoàng Thị M, T chưa thu được tiền lãi nhưng đã hướng đến thu số tiền lãi là 140.000.000đ (một trăm bốn mươi triệu đồng), trong đó số tiền thu lợi bất chính T hướng đến là 117.573.060đ (một trăm mười bảy triệu, năm trăm bảy mươi ba nghìn, không trăm sáu mươi đồng).
Đối với khoản vay của chị Mã Thị Thu C, bị cáo T đã thu tổng số tiền lãi là 4.400.000đ (bốn triệu, bốn trăm nghìn đồng) và hướng tới thu số tiền lãi là 9.000.000đ (chín triệu đồng), trong đó đã thu lợi bất chính số tiền 3.566.667đ (ba triệu, năm trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng) và hướng tới thu lợi bất chính số tiền 7.333.333đ (bảy triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng).
9
Tổng số tiền thu lợi bất chính để xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Vũ Đức T là 128.473.060đ (một trăm hai mươi tám triệu, bốn trăm bảy mươi ba nghìn, không trăm sáu mươi đồng), sau khi đã trừ đi 20% mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự. Vì vậy việc truy tố, xét xử bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Từ những phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo T thuộc trường hợp được áp dụng Điều 57 của Bộ luật Hình sự là phạm tội chưa đạt.
[3] Xét tính chất, hành vi bị cáo thực hiện là xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực tài chính, tín dụng, gây dư luận xấu trong nhân dân và làm ảnh hưởng tới an ninh trật tự tại địa phương. Do đó cần có mức hình phạt phù hợp tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo trên cơ sở xem xét, đánh giá nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Vũ Đức T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, khắc phục hậu quả bằng việc bị cáo đã nộp một khoản tiền vào Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn để trả cho chị C . Ngoài ra, ngày 21/02/2019 bị cáo Vũ Đức T được Bộ trưởng Bộ C2 tặng thưởng kỷ niệm chương vì an ninh Tổ quốc - đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt.
Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tiền án, tiền sự, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, không phải chịu tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, đủ khả năng tự cải tạo tại địa phương mà không cần thiết phải bắt bị cáo đi tù có thời hạn. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở cho bị cáo hưởng án treo theo quy định của pháp luật. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về việc cho các bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ nên chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa thấy bị cáo có đủ điều kiện để thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền, vì vậy cần phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo để sung quỹ Nhà nước và cấm bị cáo hoạt động cho vay, cầm đồ trong thời hạn nhất định kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
[5] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Hội đồng xét xử xác định khoản tiền gốc và lãi như sau:
Đối với số tiền gốc của khoản vay, xác định đây là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước;
Khoản tiền gốc bị cáo T cho bà M vay 95.000.000đ bà M chưa trả cho bị cáo T nên buộc bà M phải nộp lại số tiền này để sung vào ngân sách Nhà nước.
10
Khoản tiền gốc bị cáo T cho chị C vay 10.000.000đ chị C chưa trả cho bị cáo T nên buộc chị C phải nộp lại số tiền này để sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với khoản tiền lãi bị cáo T đã thu của chị C 4.400.000đ, xác định được bị cáo thu lời bất chính 3.566.667đ nên buộc bị cáo trả lại cho chị C số tiền bị cáo đã thu lời bất chính. Ghi nhận bị cáo đã nộp số tiền này tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn mục đích để trả cho chị C.
Đối với số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự 833.333đ - đây là khoản tiền phát sinh từ tội phạm. Do đó cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước khoản tiền này.
[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (một) quyển sổ khổ giấy A4, bìa có dòng chữ “Ghi nợ xấu” bằng chữ viết tay được đánh số từ 01 đến 167 và 01 (một) giấy biên nhận, nhận tiền chuyển nhượng đất vườn đề ngày 25/5/2022, đề tên người nhận tiền là Hoàng Thị M.
- - Tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax, màu trắng, số IMEI: 359456494428668, đã qua sử dụng.
- - Tạm giữ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max, màu vàng, số IMEI: 3572710939227362, đã qua sử dụng để đảm bảo THA phần án phí cho bị cáo.
- - Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) xác sim trong hai chiếc điện thoại nêu trên của bị cáo T.
- - Đối với số tiền 3.566.667đ (Ba triệu năm trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu bảy đồng) theo biên lai thu số 0000277, ngày 03/3/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn - Bị cáo nộp để trả cho chị C tiếp tục tạm giữ để thi hành án cho bị cáo Vũ Đức T.
[7] Trong vụ án còn có nội dung:
Qua điều tra xác định, ngoài Hoàng Thị M và Mã Thị Thu C thì Vũ Đức T còn cho một số người khác vay tiền nhưng không tính lãi suất hoặc chưa thỏa thuận lãi suất nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét xử lý đối với T.
Khoảng tháng 2/2022, Vũ Đức T cho Vũ Duy T1, sinh năm 1982, trú tại tổ A, phường S, thành phố B vay số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) và thỏa thuận lãi suất là 900.000đ/tháng. Từ thời điểm vay đến tháng 8/2023, anh T1 đã trả cho T tổng số tiền lãi là 16.200.000đ (mười sáu triệu, hai trăm nghìn đồng). Tính đến thời điểm Cơ quan điều tra phát hiện Vũ Đức T có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự ngày 27/8/2024 thì các khoản vay trên đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét xử lý đối với T.
11
Ngoài ra, theo nội dung tin báo của quần chúng nhân dân còn có Đỗ Thị L, sinh năm 1967, trú tại thôn N, xã N, huyện C và Trần Thị B, sinh năm 1952, trú tại thôn C, xã N, huyện C cũng có hành vi cho nhiều người vay tiền với lãi suất vượt quá quy định của pháp luật, có biểu hiện hoạt động cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định được như sau:
Đối với Đỗ Thị L cho nhiều người vay tiền, trong đó có một số người khai L có tính lãi suất. Tuy nhiên, đối với các khoản vay chứng minh được L thu lãi suất vượt quá quy định của pháp luật thì số tiền thu lợi bất chính dưới 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng). Do đó, hành vi của L chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Hiện nay, các khoản vay trên đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét xử lý đối với Đỗ Thị L.
Đối với Trần Thị B: Quá trình điều tra, bà Hoàng Thị M, sinh năm 1959, trú tại tổ H, thị trấn B, huyện C và bà Hoàng Thị T2, sinh năm 1961, trú tại tổ A, phường S, thành phố B khai: Vào khoảng tháng 4/2022, bà M và bà T2 được vay số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) với B (trong đó, bà M vay số tiền 9.000.000 đồng, bà T2 vay số tiền 21.000.000 đồng), thỏa thuận lãi suất là 5.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, tương đương với mức lãi suất 182,5%/năm, nhưng từ khi vay tiền đến nay bà M và bà T2 chưa trả tiền lãi và gốc cho B. Tại Cơ quan điều tra, B thừa nhận được cho bà M và bà T2 vay số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng), nhưng không thừa nhận việc thỏa thuận lãi suất như bà M, bà T2 trình bày. Ngoài lời khai của bà M và bà T2, Cơ quan điều tra không thu thập được tài liệu chứng cứ xác định B cho bà M và bà T2 vay tiền thu lãi suất cao nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xem xét xử lý đối với Trần Thị B.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Vũ Đức T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
Áp dụng khoản 2, Điều 201; điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15, Điều 57; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Đức T từ 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải
12
chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của Bản án trước và tổng hợp với hình phạt của Bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
2. Hình phạt bổ sung:
Áp dụng khoản 3 Điều 201 của Bộ luật Hình sự: Phạt bị cáo Vũ Đức T số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước. Cấm bị cáo hoạt động cho vay, cầm đồ trong thời hạn 02 (Hai) năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 468 của Bộ luật Dân sự và Nghị quyết số: 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
Buộc bà M phải nộp lại số tiền 95.000.000đ (Chín mươi lăm triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Buộc chị C phải nộp lại số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Buộc bị cáo T nộp lại số tiền lãi phát sinh từ phạm tội mà có số tiền 833.333đ (Tám trăm ba ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Buộc bị cáo T trả lại cho chị C số tiền bị cáo đã thu lời bất chính 3.566.667đ (Ba triệu năm trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng)
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự
- - Lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (một) quyển sổ khổ giấy A4, bìa có dòng chữ “Ghi nợ xấu” bằng chữ viết tay được đánh số từ 01 đến 167 và 01 (một) giấy biên nhận, nhận tiền chuyển nhượng đất vườn đề ngày 25/5/2022, đề tên người nhận tiền là Hoàng Thị M.
- - Tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax, màu trắng, số IMEI: 359456494428668, đã qua sử dụng.
- - Tạm giữ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max, màu vàng, số IMEI: 3572710939227362, đã qua sử dụng để đảm bảo thi hành án phần án phí cho bị cáo.
- - Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) xác sim trong hai chiếc điện thoại nêu trên của bị cáo T
(Tình trạng vật chứng theo như biên bản giao nhận giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn)
5. Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án đối với số tiền 3.566.667đ (Ba triệu năm trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu bảy đồng) theo biên lai thu số
13
0000277, ngày 03/3/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn để thi hành án cho bị cáo Vũ Đức T.
6. Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vũ Đức T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Đình Hưng |
14
Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 16/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Đức Th phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
