|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2025/HS-ST Ngày: 24-3-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Hồng Thái
-
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Nguyệt
-
2. Ông Nguyễn Tất Dũng
-
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
-
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Ngô Lê Phương, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2025/TLST-HS, ngày 05 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với:
1. Bị cáo: Họ và tên: Nhâm Văn G, tên gọi khác: Không; Giới tính:
Nam; Sinh ngày 24/7/1977; Nơi cư trú và đăng ký thường trú: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch:Việt Nam; Con ông: Nhâm Văn H (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1955; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Có vợ: Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1976; Con: có 02 con (con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2012);
- Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam. bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương.
(Có mặt tại phiên tòa)
2. Người tham gia tố tụng khác:
2.1 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Võ Thị H2, sinh năm 1960;
Trú tại: Tổ dân phố A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 23/8/2021, Nhâm Văn G đến nhà bà Võ Thị H2 (sinh năm: 1960, trú tại: Tổ dân phố A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) để vay tiền tiêu sài cá nhân. Khi đến nhà bà H2, G và bà H2 đồng ý với mức vay 100.000.000đ và sẽ lấy 2.000.000đ tiền lãi trên một tháng, G đồng ý. Sau khi thoả thuận xong, G viết giấy vay nợ với bà H2 số tiền là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) với lãi suất 1.000.000đ/1 tháng, sau đó bà H2 đưa cho G số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng). Khoảng tháng 11 năm 2021, G cần vay thêm tiền nhưng do không có tài sản gì thế chấp nên bà H2 không đồng ý cho vay. Sau đó, G nảy sinh ý định đặt làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên mạng xã hội Facebook để làm tài sản thế chấp cho khoản vay và đã sử dụng tài khoản Facebook: “L” để tìm kiếm người nhận làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên trang mạng xã hội Facebook. Quá trình tìm kiếm G thấy một trang quảng cáo nhận làm giấy chứng nhận các loại giấy tờ (không xác định được trang mạng này có địa chỉ thông tin cụ thể), G nhắn tin messenger cho người sử dụng trang mạng trên facebook trao đổi và đồng ý mua giấy chứng nhân quyền sử dụng đất giả với giá 1.500.000đ, khi nhận giấy tờ sẽ thanh toán. Sau đó nhắn thông tin cá nhân trên giấy tờ cho người này: “Nhâm Văn G, sinh năm 1977, vợ là: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1976, cùng trú tại tổ dân phố Đ, phường Đ, TP T, tỉnh Thái Nguyên; đất làm ở tổ dân phố Đ, phường Đ, TP T, tỉnh Thái Nguyên với diện tích là 150m2”. Khoảng 07 ngày sau, G đang ở nhà thì có người đưa hàng (không rõ thông tin cụ thể) gọi điện thoại cho G để nhận bưu phẩm. Khi nhận được bưu phẩm, G mở ra kiểm tra thấy có 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 331901 mang tên Nhâm Văn G và Nguyễn Thị H1 với diện tích 150 m², địa chỉ tại Tổ dân phố Đ và có dấu của cơ quan chức năng. G đã thanh toán số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) cho người giao bưu phẩm. Sau khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, đến khoảng tháng 01 năm 2022, G đến nhà bà H2 để vay tiền và đã sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả trên để thế chấp cho khoản vay 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng), bà H2 đồng ý. Sau đó, G viết một giấy vay nợ với số tiền: 110.000.000₫ (Cộng cùng khoản vay trước đó) cho bà H2 với lãi suất 2.000.000đ/1 tháng, bà H2 đưa cho G số tiền: 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng). Đến ngày 23/8/2022, G tiếp tục đến nhà bà H2 để vay thêm 90.000.000₫ (chín mươi triệu đồng). Bà H2 đồng ý, G viết một giấy vay nợ số tiền là 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng) với bà H2, sau đó bà H2 đưa cho G số tiền 90.000.000đ (chín mươi triệu đồng). Đến ngày 25/11/2022, do chưa trả được 04 tháng tiền lãi nên G đã đến nhà bà H2 để viết thêm vào mặt sau của giấy vay nợ số tiền 16.000.000đ (mười sáu triệu đồng) là tiền lãi phải thanh toán cho bà H2.
Tổng số tiền G đã vay bà H2 là 216.000.000đ (hai trăm mười sáu triệu đồng) và hẹn đến thời hạn tháng 3 năm 2023 sẽ thanh toán. Đến hẹn, G không có tiền trả nợ, bà H2 đã làm đơn gửi đến Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên để giải quyết. Ngày 09/01/2024, Toà án nhân dân thành phố T đã ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án, G đồng ý trả cho bà H2 số tiền là 216.000.000 đồng vào ngày 30/6/2024. Đến ngày thanh toán, bà H2 không nhận được tiền theo như kết quả giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên. Quá trình làm việc với Toà án nhân dân thành phố T, Bà H2 nghi ngờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất G dùng để thế chấp vay tiền là giả nên đã đề nghị lấy lại giấy chứng nhận trên mang đến UBND phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên để hỏi và được cung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên không được Cơ quan có thẩm quyền cấp. Ngày 25/8/2024, bà H2 đã làm đơn tố cáo kèm theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà G thế chấp gửi đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại bản kết luận giám định số:1069/KL-KTHS ngày 09/10/2024 của phòng K Công an tỉnh T kết luận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Nhâm Văn G và Nguyễn Thị H1 là giả bằng phương pháp in phun màu.
Về trách nhiệm dân sự: Hiện đã có Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành tại tòa án nên không xem xét giải quyết.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nhâm Văn G, Nguyễn Thị H1, cùng trú tại: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Được chuyển theo hồ sơ vụ án);
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Đơn tố cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa bị cáo Nhâm Văn G khai nhận toàn bộ hành vi của mình như bản Cáo trạng đã truy tố, bị cáo xác định việc truy tố là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKSĐ ngày 28/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đỷ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nhâm Văn G về tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nhâm Văn G phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nhâm Văn G từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nhâm Văn G, Nguyễn Thị H1, cùng trú tại: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Được chuyển theo hồ sơ vụ án);
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo xin được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa xét xử bị cáo G và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không yêu cầu được nhờ người bào chữa cho bị cáo và cũng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan(bà H2) nhưng họ đã có lời khai trong quá trình điều tra, xét thấy sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến tình tiết khách quan của vụ án. Căn cứ vào các Điều 292 Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt.
[2]. Về tội danh:
Do có nhu cầu vay tiền mục đích sử dụng cá nhân nên trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 2022 đến tháng 11 năm 2022, tại nhà bà Võ Thị H2 ở tổ dân phố A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Nhâm Văn G đã sử dụng 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mang tên Nhâm Văn G và Nguyễn Thị H1 để thế chấp 03 khoản vay với tổng số tiền 216.000.000₫ (Hai trăm mười sáu triệu đồng) của bà H2.
Về nguồn gốc của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mang tên mang tên Nhâm Văn G và Nguyễn Thị H1 là do G đặt một người không rõ tên tuổi lai lịch trên mạng Facbook, với giá 1.500.000đ.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vật chứng đã thu giữ, bản kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự hoạt động bình thường, đúng đắn, làm giảm hiệu lực, hiệu quả của cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Hội đồng xét xử thấy, việc truy tố để xét xử đối với bị cáo Nhâm Văn G về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Nội dung Điều 341 Bộ luật hình sự quy định như sau:
“1. Người nào....sử dụng tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.
....
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
Đối với việc G sử dụng GCNQSDĐ giả để vay tiền bà Võ Thị H2. Hiện nay bị cáo vẫn đang trả nợ dần cho bà H2. Quá trình điều tra xác định G không có mục đích chiếm đoạt tài sản nên không cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
[3]. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, nhất thời phạm tội. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, nên xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà xem xét mở lượng khoan hồng của pháp luật, chấp nhận lời thỉnh cầu của bị cáo để áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Hành vi phạm tội của bị cáo không nhằm mục đích lợi nhuận hoặc thu lời bất chính nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 4 Điều 341 Bộ luật hình sự.
[5]. Vật chứng của vụ án: Đối với 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mang tên mang tên Nhâm Văn G và Nguyễn Thị H1 được niêm phong trong phong bì (ký hiệu A) của Phòng K Công an tỉnh T chuyển theo hồ sơ vụ án cần tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
[6]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, hình phạt đối với bị cáo và các nội dung khác của vụ án tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án( bà H2) có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[8]. Các vấn đề khác: Trong vụ án này còn có bà Nguyễn Thị H1 là vợ của G không biết việc G làm giấy chứng nhận QSD đất giả để thế chấp vay tiền của bà H2 do đó Cơ quan CSĐT không xem xét xử lý.
Đối tượng trực tiếp làm giấy chứng nhận QSD đất giả cho Nhâm Văn G do G liên hệ trên mạng Facebook, Cơ quan CSĐT không xác định được nhân thân lai lịch của đối tượng nên không có căn cứ xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Nhâm Văn G phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
1. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nhâm Văn G 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nhâm Văn G cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Vật chứng của vụ án:
Lưu theo hồ sơ vụ án 01 (một) phong bì niêm phong (ký hiệu A) của Phòng K Công an tỉnh T Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nhâm Văn G và Nguyễn Thị H1.
3. Án phí:
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nhâm Văn G phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên bản án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án( bà H2) vắng mặt tại phiên tòa, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Mai Thị Hồng Thái |
Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 16/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do có nhu cầu vay tiền mục đích sử dụng cá nhân nên trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 2022 đến tháng 11 năm 2022, tại nhà bà Võ Thị H2 ở tổ dân phố A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Nhâm Văn G đã sử dụng 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mang tên Nhâm Văn G và Nguyễn Thị H1 để thế chấp 03 khoản vay với tổng số tiền 216.000.000đ (Hai trăm mười sáu triệu đồng) của bà H2. Về nguồn gốc của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mang tên mang tên Nhâm Văn G và Nguyễn Thị H1 là do G đặt một người không rõ tên tuổi lai lịch trên mạng Facbook, với giá 1.500.000đ.