Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HS-ST

Ngày: 22/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Ngọc Quân - Hiệu trưởng trường THCS Dương Đông 2.

Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thuỷ - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Quốc Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thiện H, sinh ngày 14/02/2008 tại Rạch G, Kiên Giang. ĐKTT: Số A đường Q, khu phố Q, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: Ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn P, sinh năm 1985 và bà Dương Ngọc Đang T, sinh năm 1986; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt.

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Ông Trần Văn P, sinh năm 1985 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Mai Tấn T1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh K (Có mặt).

* Người bị hại: Anh Sử Thái D, sinh năm 2005 (Có mặt).

Địa chỉ: Khu phố G, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13giờ 30 phút ngày 31/7/2024, Trần Thiện H, (sinh ngày 14/02/2008) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave alpha màu xanh dương, biển kiểm soát: 68S5 - 4156 (xe của ông Trần Văn P) đi từ nhà trọ Đầy Đủ nơi H thuê ở thuộc ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang đến khu vực bãi biển T, ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, tìm nơi có bóng mát ngồi chơi. Trong lúc đang chạy xe trên đường ven biển D thấy anh Sử Thái D đang ngồi dưới gốc cây bên cạnh có một xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu trắng, biển kiểm soát 68M1 - 306.72, trên xe có treo một cặp gia đeo chéo màu đen (treo trên tay cầm lái), anh D đang cầm điện thoại ngồi quay mặt về hướng biển chơi game. Do cần tiền để đóng tiền vay trên App (vay tiền bằng iCloud điện thoại Iphone Huy đang sử dụng) nên H nảy sinh ý định chiếm đoạt cặp đeo chéo của anh D để lấy tiền trả nợ. H điều khiển xe mô tô quay về phòng trọ của H lấy 01 cây dao có cán bằng nhựa màu đen, lưỡi bằng kim loại màu trắng, có một bề sắc trong rổ nhựa màu đỏ để dưới tủ chén và thay quần jean dài màu xám và cất giấu cây dao vào trong túi quần bên phải. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô quay lại khu vực bãi biển nơi anh D đang ngồi, dựng xe mô tô cách vị trí anh D khoảng 100m đi bộ đến vị trí anh D ngồi theo hướng từ phía sau. H đi đến gần thấy D đang chăm chú chơi game, H không sử dụng dao mang theo để khống chế anh D do sợ gây chết người, H quan sát thấy một cục bê tông màu xám, dưới đất gần vị trí anh D đang ngồi, H nhặt một cục bê tông (kích thước to hơn viên gạch ống) cầm trên tay phải đánh một cái vào vùng đầu theo hướng từ trên xuống trúng đỉnh đầu của anh D với mục đích cho nạn nhân xỉu để chiếm đoạt tài sản nhưng do lực đánh nhẹ nên anh D không xỉu, anh D đứng lên chống trả nên H dùng tay phải lấy cây dao đã chuẩn bị sẵn trong túi quần ra kề dao vào phần cổ bên phải của anh D để khống chế, anh D phản kháng chống cự lại dẫn đến H cắt một nhát trúng vùng cổ bên phải của anh D gây thương tích. Lúc này, anh D xô đẩy, giằng co làm cả hai ngã xuống bụi cỏ gần đó, trong quá trình giằng co thì lưỡi dao trên tay của H cắt trúng vào phần mang tai bên trái của anh D gây thương tích. Sau khi bị thương, anh D hỏi H nhiều lần “bây giờ anh muốn gì em đưa cho anh” thì H không sử dụng dao để khống chế D nữa và nói “bây giờ tôi cần một triệu”. D tiếp tục nói “tiền đang để trong túi quần, kéo dây kéo túi quần dùm”. H dùng tay trái kéo dây kéo túi quần bên phải của D xuống nhưng không có tiền, anh D nói tiếp “tiền ở trong túi treo trên xe”, H đứng dậy đi đến chỗ cặp đeo chéo lấy cặp treo trên xe đem lại gần chỗ

2

D, mở ra xem thấy bên trong có 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 tờ tiền giấy có mệnh giá 5.000 đồng và 01 tờ tiền giấy có mệnh giá 2.000 đồng, H lấy hết số tiền trên và kêu D đi cấp cứu cầm máu. Sau khi gây án xong, H điều khiển xe mô tô chạy về nhà trọ rửa cây dao để lại vào rổ màu đỏ đựng dao trong nhà trọ rồi đi tàu về Rạch G và số tiền chiếm đoạt được tiêu xài cá nhân hết. Đến sáng ngày 02/8/2024, Trần Thiện H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ. Đến ngày 10/8/2024, bị khởi tố và tạm giam để điều tra cho đến nay.

* Tang vật thu giữ:

  • 01 (một) đôi dép, quai ngang màu xanh trắng, trên dép có in dòng chữ adidas, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) áo thun ngắn tay bằng vải màu xanh, không rõ nhãn hiệu, phía trước áo có họa tiết màu trắng, trên cổ áo có dòng chữ majestic, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) nón bảo hiểm, loại nón sơn, màu trắng đen, có dây đeo màu đen, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) quần jean dài màu xám, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) quần thun bằng vải màu đen, có dây rút lưng quần màu trắng sữa, có dòng chữ FACTORY, size L, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) cây dao, bằng kim loại dài 25cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 10,5cm, phần lưỡi dao dài 14,5cm, nơi rộng nhất của lưỡi dao 3,4cm, một bề sống và một bề sắc, mũi dao nhọn, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) khẩu trang bằng vải màu trắng sữa, trên khẩu trang có in dòng chữ UNICARE, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) cục bê tông, màu xám, có hình dạng không xác định, kích thước 23cm x 16cm x 06cm, cân nặng 2460 gram.
  • 01 (một) cục bê tông, màu xám, có hình dạng không xác định, kích thước 12cm x 07cm x 4,5cm, cân nặng 300 gram.
  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh, biển kiểm soát 68S5-4156, đã qua sử dụng.

* Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích trên cơ thể người sống số: 584/KLTTCT ngày 30/8/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh K, đối với Sử Thái D, sinh năm 2005; Địa chỉ: ấp G S, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, kết luận:

1. Các kết quả chính:

- Kết quả khám giám định:

+ Sẹo phần mềm vùng đỉnh phải, vùng cổ trước bên phải và vùng sau tai trái (Cổ sau bên trái).

3

2. Kết luận:

2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Sử Thái D tại thời điểm giám định là 09% (Chín phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

2.2. Tỷ lệ tổn thương do thương tích gây nên tại thời điểm giám định ở:

  • Vùng đỉnh phải là: 01% (Một phần trăm).
  • Vùng cổ trước bên phải là: 04% (Bốn phần trăm).
  • Vùng sau tai trái (Cổ sau bên trái) là: 04% (Bốn phần trăm).

2.3. Vật gây thương tích:

  • Thương tích ở vùng đỉnh phải do vật tày có góc; cạnh gây nên.
  • Thương tích ở vùng sau tai trái (Cổ sau bên trái) và vùng cổ trước bên phải do vật có cạnh sắc gây nên.

2.4. Về cơ chế hình thành thương tích:

  • Thương tích ở vùng đỉnh phải do vật tày có góc, cạnh tác động theo hướng từ trên xuống so với trục giải phẩu cơ thể.
  • Thương tích ở vùng cổ trước bên phải do vật có cạnh sắc tác động theo hướng từ trước ra sau so với trục giải phẩu cơ thể.
  • Thương tích ở vùng sau tai trái (cổ sau bên trái) do vật có cạnh sắc tác động theo hướng từ trái qua phải so với trục giải phẩu cơ thể.

* Kết luận giám định vật gây thương tích số: 585/KLTTCT ngày 30/8/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh K, đối với Sử Thái D, sinh năm 2005; Địa chỉ: ấp G S, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, kết luận:

IV. Kết luận

1. Các kết quả chính:

  • Mẫu vật (cây dao đánh dấu số 01) gửi giám định là dạng vật có cạnh sắc.
  • Mẫu vật (cục bê tông đánh dấu số 02 và 03) gửi giám định đều là dạng vật tày có góc, cạnh.
  • Thương tích ở vùng đỉnh phải do vật tày có góc; cạnh gây nên.
  • Thương tích ở vùng cổ trước bên phải, vùng sau tai trái (cổ sau bên trái) do vật có cạnh sắc gây nên.

2. Kết luận:

- Căn cứ kết quả giám định vật gây thương tích được cơ quan trưng cầu giám định gửi đến, xác định:

- Mẫu vật (cây dao đánh dấu số 01) gửi giám định có đặc tính giống với đặc tính gây thương tích ở vùng cổ trước bên phải vùng sau tai trái (cổ sau bên trái) nên

4

có thể gây được thương tích ở vùng cổ trước bên phải vùng sau tai trái (cổ sau bên trái) của Sử Thái D,

- Mẫu vật (cục bê tông đánh dấu số 02 và 03) gửi giám định đều có đặc tính giống với đặc tính của vật gây thương tích vùng đỉnh phải nên có thể gây được thương tích ở vùng đỉnh phải của Sử Thái D.

Bản cáo trạng số 17/CT-VKSPQ ngày 02/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Trần Thiện H về tội: “Cướp tài sản”, theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” và đề nghị HĐXX áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 91, Điều 101 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, gia đình bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả số tiền là 24.000.000 đồng cho bị hại Sử T. Bị hại Sử Thái D không có yêu cầu gì thêm, đề nghị không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định tại Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.

* Người bào chữa cho bị cáo - Ông Mai Tấn T1 trình bày: Thống nhất với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố bị cáo về tội Cướp tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 168 BLHS nhưng mong HĐXX xem xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; Bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại; Khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên, bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Đề nghị HĐXX áp dụng cho bị cáo điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 91 và Điều 101 BLHS, tuyên phạt bị cáo mức án thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Bị hại Sử Thái D đề nghị HĐXX xử bị cáo theo quy định pháp luật. Về trách nhiệm dân sự, anh D cho rằng cha bị cáo (ông P) đã bồi thường 24.000.000 đồng, nay không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi HĐXX vào nghị án: Bị cáo ăn năn hối cải mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến

5

hành tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã tuân thủ nghiêm các quyền và nghĩa vụ của mình, thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đánh giá chứng cứ:

a) Bị cáo thừa nhận:

Vào khoảng 14 giờ, ngày 31/7/2024, tại khu vực bãi biển T, ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang bị cáo sử dụng một cục bê tông màu xám (kích thước to hơn viên gạch ống) đánh vào vùng đầu của bị hại Sử Thái D một cái, sau đó tiếp tục dùng cây dao bằng kim loại để khống chế bị hại Sử Thái D dẫn đến gây thương tích cho anh D ở vùng cổ trước bên phải, vùng mang tai bên trái với tổng tỷ lệ thương tích là 09%, cướp được của bị hại tổng số tiền là 117.000 đồng để tiêu xài cá nhân.

b) Vật chứng thu giữ gồm: 01 đôi dép, 01 áo thun ngắn tay, 01 nón bảo hiểm, 01 quần jean dài màu xám, 01 quần thun bằng vải màu đen, 01 cây dao bằng kim loại, 01 khẩu trang bằng vải màu trắng sửa, 02 cục bê tông, 01 xe môtô nhãn hiệu Honda. Tất cả đều đã qua sử dụng.

d) Qua lời khai của bị hại Sử T xác định bị cáo đã dùng cục bê tông để đánh vào đỉnh đầu và dùng dao đe doạ dẫn đến bị hại bị thương vùng đỉnh đầu, vùng cổ trước và vùng sau tai trái nhằm mục đích khống chế chiếm đoạt tiền của bị hại để trả nợ vay. Qua kết luận giám định, tỷ lệ thương tích của bị hại tổng cộng là 09%.

Từ các chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử nhận định lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, kết luận giám định, vật chứng vụ án cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ để kết luận bị cáo đã dùng vũ lực ngay tức khắc khống chế bị hại làm cho bị hại hoảng sợ lâm vào tình thế không thể chống cự để chiếm đoạt tiền của bị hại. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã thành

6

khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại xong nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Do bị cáo có đến 02 tình tiết giảm nhẹ lại không có tình tiế tăng nặng nên được áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS, xử bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo là học sinh nhận thức được hành vi dùng cục bê tông đánh vào đầu và dùng dao kề vào cổ để khống chế bị hại là hành vi vô cùng nguy hiểm nhưng bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản, sức khoẻ của bị hại một cách trái pháp luật, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong nhân dân, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương nên cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng. Tuy nhiên, xét thấy khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, quá trình học tập luôn đạt thành tích tốt nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát và quan điểm của ông T1, xử bị mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để thể sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát: Tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và trách nhiệm dân sự mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.

[6] Về quan điểm của người bào chữa cho bị cáo: Xét thấy có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.

[7] Về yêu cầu của bị hại: Sau khi vụ án xảy ra, cha của bị cáo là ông Trần Văn P đã bồi thường cho bị hại 24.000.000 đồng. Nay bị hại không yêu cầu bồi thường bất cứ khoản nào khác nên HĐXX không xem xét.

[8] Về xử lý vậy chứng: Các vật chứng còn lại của vụ án là vật chứng bị cáo dùng khi thực hiện tội phạm nay không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại khoản 1 Điều 47 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[9] Về các vấn đề khác:

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 91, Điều 101 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

7

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thiện H phạm tội “Cướp tài sản”.

2. Xử phạt:

- Bị cáo Trần Thiện H 03 (ba) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam: Ngày 02/8/2024.

3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại xong, nay bị hại cũng không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không xem xét.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng sau:

  • 01 (một) đôi dép, quai ngang màu xanh trắng, trên dép có in dòng chữ adidas, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) áo thun ngắn tay bằng vải màu xanh, không rõ nhãn hiệu, phía trước áo có họa tiết màu trắng, trên cổ áo có dòng chữ majestic, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) nón bảo hiểm, loại nón sơn, màu trắng đen, có dây đeo màu đen, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) quần jean dài màu xám, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) quần thun bằng vải màu đen, có dây rút lưng quần màu trắng sữa, có dòng chữ FACTORY, size L, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) cây dao, bằng kim loại dài 25cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 10,5cm, phần lưỡi dao dài 14,5cm, nơi rộng nhất của lưỡi dao 3,4cm, một bề sống và một bề sắc, mũi dao nhọn, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) khẩu trang bằng vải màu trắng sữa, trên khẩu trang có in dòng chữ UNICARE, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) cục bê tông, màu xám, có hình dạng không xác định, kích thước 23cm x 16cm x 06cm, cân nặng 2460 gram.
  • 01 (một) cục bê tông, màu xám, có hình dạng không xác định, kích thước 12cm x 07cm x 4,5cm, cân nặng 300 gram.

(Theo quyết định chuyển giao vật chứng số 14/QĐ-VKSPQ ngày 02/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang).

5. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự.

6. Về quyền kháng cáo:

Báo cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo và người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

8

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND Tp. Phú Quốc;
  • - CQTHAHS Tp. Phú Quốc;
  • - THA Tp. Phú Quốc;
  • - CQCSĐT-CA TP. Phú Quốc;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người BVQ&LIHP;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Trang

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 22/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG về cướp tài sản

  • Số bản án: 16/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger